Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin tuyên truyền

 
Thông tin tuyên truyền - Đề án 343
 
Nhân kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20.10.1930-2017), UBND huyện Hòa Thành tổ chức buổi họp mặt nữ cán bộ, công chức, viên chức và nữ lãnh đạo Hội LHPN huyện qua các thời kỳ.  
 
Nhân kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam (20.10.1930- 2017), Hội LHPN thành phố Tây Ninh tổ chức Hội thi “Hát về phụ nữ Việt Nam”. 
 
Những năm gần đây, nhiều gia đình nghèo ở địa phương đều biết và nể phục tinh thần xông xáo, nhiệt tình trong công việc của chị Nguyễn Thị Dung, 39 tuổi- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Cầu Khởi (huyện Dương Minh Châu). 
 
Ðể tiếp sức cho phụ nữ vươn lên phát triển kinh tế, với mục tiêu “trao cần câu hơn xâu cá”, từ đầu năm 2017, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) huyện Dương Minh Châu bắt đầu thực hiện chương trình trao vốn khởi nghiệp không lãi suất đến chị em phụ nữ. 
 
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, con người Việt Nam đã hình thành những phẩm chất tốt đẹp, đó là tinh thần anh dũng, kiên cường, tạo nên sức mạnh cộng đồng để tồn tại, chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù. Trong tiến trình lịch sử đó, phụ nữ Việt Nam đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc bảo tồn, gìn giữ, phát huy những giá trị bản sắc của dân tộc ta từ thế hệ này qua thế hệ khác. Sự đóng góp thầm lặng ấy đã dần kết tinh thành những phẩm chất đạo đức tuyệt vời của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới: “Tự tin – Tự trọng – Trung hậu – Đảm đang”. 
 
Ban Biên tập: Qua chuyên mục này, BBT Cổng TTĐT tỉnh xin giới thiệu tài liệu do Ban Điều hành Đề án 343 PN phối hợp với đội ngũ chuyên gia tại Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn. để giúp các đồng chí đang công tác trong hệ thống thông tin cơ sở trên địa bàn tỉnh có thêm tài liệu phục vụ nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. 
 
Căn cứ vào tiêu chí đề ra toàn tỉnh đã bình xét được 51 vị, trong đó có 4 vị (2 xã và 2 ấp, khu phố) được cử tham dự hội nghị biểu dương cấp Trung ương, sẽ tổ chức vào tháng 10/2017 tại Thủ đô Hà Nội, 47 vị được đề cử dự Hội nghị biểu dương cấp tỉnh,(Chủ tịch UBMTTQVN cấp xã 21 vị, trưởng ban công tác Mặt trận ấp, khu phố 26 vị). Tất cả 51 vị được bình chọn đều được BTT UBMTTQVN tỉnh đề nghị khen thưởng: cấp trung ương 4 vị; UBND tỉnh khen 9 vị; UBMTTQVN tỉnh khen 38 vị.  
 
Đài Phát thanh - Truyền hình (PT-TH) xác định công tác “Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng.  
 
Sở Thông tin và Truyền thông là đơn vị được Ban chỉ đạo Đề án 343 tỉnh giao triển khai thực hiện Tiểu Đề án 3 “Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên các phương tiện thông tin đại chúng”.  
 
Nhằm giúp cho các chị em có những kiến thức cơ bản về khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh tạo việc làm tại chỗ cho các chị em phụ nữ, chiều ngày 14/9/2017 Hội liên hiệp phụ nữ huyện Tân Châu phối hợp với Phụ nữ Tỉnh Tây Ninh tổ chức tập huấn kiến thức hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp.  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Phân loại
  
  
  
  
Họp mặt kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam NewHọp mặt kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
 Nhân kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20.10.1930-2017), UBND huyện Hòa Thành tổ chức buổi họp mặt nữ cán bộ, công chức, viên chức và nữ lãnh đạo Hội LHPN huyện qua các thời kỳ.

Đến dự có bà Phan Thị Điệp- Phó chủ tịch HĐND tỉnh, ông Võ Văn Sớm- Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy, ông Nguyễn Hồng Thanh- Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, bà Võ Thị Bạch Tuyết- Chủ tịch Hội LHPN tỉnh cùng lãnh đạo huyện Hòa Thành và các đồng chí nguyên Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội LHPN tỉnh, huyện qua các thời kỳ.

Họp mặt kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Trao kỷ niệm chương Vì sự phát triển của phụ nữ cho các cá nhân.

Tại buổi họp mặt, đại biểu cùng ôn lại truyền thống 87 năm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam. Phát huy truyền thống vẻ vang của phụ nữ Việt Nam, những năm qua, Hội LHPN huyện Hòa Thành đã tập hợp đoàn kết rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, phát huy  tiềm năng, sức sáng tạo của phụ nữ, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước mang lại hiệu quả thiết thực.

Một số phong trào nổi bật trên địa bàn huyện, như phong trào thi đua Phụ nữ 2 giỏi “giỏi việc nước, đảm việc nhà”; phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; phong trào hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế gia đình, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc; xây dựng người phụ nữ huyện Hòa Thành đoàn kết, năng động, sáng tạo và tích cực tham gia xây dựng đô thị văn minh.

Nhân dịp này, có 25 cá nhân đã được Trung ương Hội LHPN Việt Nam trao tặng kỷ niệm chương Vì sự phát triển của phụ nữ.

Cũng tại buổi họp mặt, Hội LHPN huyện Hòa Thành phối hợp với Liên đoàn Lao động và Trung tâm Văn hóa thể thao huyện tổ chức vòng chung kết Hội thi Tiếng hát karaoke chào mừng kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam 20.10.

* Tại Gò Dầu, Hội LHPN huyện cũng đã tổ chức họp mặt kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Hội Hội LHPN Việt Nam.

Họp mặt kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Ông Lê Văn Sỹ- Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Gò Dầu tặng lẵng hoa chúc mừng phụ nữ Gò Dầu.

Năm 2017, Hội LHPN huyện Gò Dầu thực hiện cho vay vốn tạo việc làm trong phụ nữ, giúp chị em phát triển kinh tế gia đình; tổ chức các lớp dạy nghề cho phụ nữ; vận động xây tặng được 11 mái ấm tình thương cho 11 phụ nữ nghèo với tổng số tiền 460 triệu đồng; tặng gần 7.800 kg gạo cho hơn 4.200 lượt phụ nữ khó khăn; trao học bổng Trần Thị Sanh cho 258 học sinh nghèo vượt khó với số tiền gần 149 triệu đồng...

Dịp này, Trung ương Hội LHPN Việt Nam đã trao tặng kỷ niệm chương Vì sự phát triển của phụ nữ cho 2 cá nhân; CLB Phụ nữ hưu trí huyện tổ chức mừng thọ cho 4 hội viên 60 tuổi.

Tại buổi lễ, Hội LHPN huyện Gò Dầu trao 45 suất học bổng Trần Thị Sanh trị giá gần 22 triệu đồng cho các nữ sinh nghèo hiếu học; hỗ trợ vốn khởi nghiệp cho 10 phụ nữ với tổng số tiền 150 triệu đồng để sản xuất, kinh doanh.

Nguồn kinh phí do quỹ hỗ trợ xã hội Khu Công nghiệp Phước Đông- Bời Lời hỗ trợ.

Theo Báo Tây Ninh Online

18/10/2017 2:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/hop mat_hoa thanh_Key_18102017133819.JPGĐề án 3432Báo Tây Ninh OnlineNo
Tây Ninh phấn đấu có thêm 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới cuối năm 2017NewTây Ninh phấn đấu có thêm 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới cuối năm 2017
Căn cứ vào Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2016-2020,  Ban Chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới của tỉnh đã rà soát, đánh giá thực trạng của 80 xã. Kết quả có 8/22 xã đạt chuẩn duy trì, giữ vững 19 tiêu chí, 13 xã đạt 15 đến 18 tiêu chí, 37 xã đạt 10 đến 14 tiêu chí…Vì vậy, mặc dù có khó khăn nhưng Ban chỉ đạo quyết giữ vững 22 xã đã đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2011-2016 và quyết tâm phấn đấu có thêm 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2017.

Hiện nay, 8 xã đang phấn đấu đạt chuẩn NTM là Gia Lộc (Trảng Bàng) đạt 17 tiêu chí, Thái Bình (Châu Thành) và Tân Hưng (Tân Châu) đạt 16 tiêu chí, Long Chữ (Bến Cầu) và Thanh Phước (Gò Dầu) đạt 14 tiêu chí, Cầu Khởi (Dương Minh Châu) đạt 12 tiêu chí, Mỏ Công (Tân Biên) và Trường Tây (Hoà Thành) đạt 11 tiêu chí. Các xã trên đang phấn đấu đạt các tiêu chí ở nhóm phát triển hạ tầng KT-XH (giao thông, thủy lợi, trường học, cơ sở vật chất văn hóa) và nhóm phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân.

Theo Ban Chỉ đạo, đến cuối năm 2017, 2 xã có khả năng cao đạt chuẩn NTM là Gia Lộc và Thanh Phước; 3 xã Thái Bình, Long Chữ, Mỏ Công nếu được tập trung giải quyết tốt vướng mắc về đầu tư, vốn đầu tư sẽ đạt chuẩn; 3 xã khả năng đạt thấp là Tân Hưng, Cầu Khởi và Trường Tây do nhiều dự án phát triển hạ tầng KT-XH chưa có vốn thực hiện, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế còn thấp so với quy định, số hộ nghèo còn nhiều…

Kết quả rà soát, đánh giá thực trạng xây dựng NTM của tỉnh vừa qua cho thấy quá trình thực hiện phát sinh một số tồn tại, hạn chế. Đó là: việc điều chính, bổ sung quy hoạch xây dựng xã NTM còn chậm so với Kế hoạch số 1729/KH-UBND của UBND tỉnh yêu cầu; do áp dụng Bộ tiêu chí mới (giai đoạn 2016-2020) dẫn đến tăng thêm 10 chỉ tiêu, đồng thời một số tiêu chí lại nâng mức đạt chuẩn cao hơn so với trước. Nguồn vốn thực hiện chương trình chậm phân khai; danh mục đầu tư chậm được phê duyệt. Vốn từ ngân sách Nhà nước huy động cho chương trình tuy vượt mức quy định nhưng còn thấp so với nhu cầu thực tế. Nguồn vốn huy động trong dân và doanh nghiệp còn ít. Sản xuất nông nghiệp còn khó khăn. Hàng nông sản khó tiêu thụ. Kinh tế hợp tác ở nông thôn có phát triển nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu.

Nhân lực tham mưu và triển khai thực hiện chương trình ở cấp huyện và xã còn nhiều hạn chế. Công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa thật chặt chẽ.

Một số tiêu chí đề ra nhưng địa phương khó đạt và đòi hỏi phải có thời gian thực hiện. Đó là tiêu chí về hộ nghèo, tỷ lệ người dân tham gia BHYT, tỷ lệ trẻ em đưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi, tỷ lệ lao động có việc làm đã qua đào tạo, thu nhập bình quân đầu người đạt 44 triệu đồng/người/năm…

Chỉ tính riêng 4 xã đang phấn đấu đạt chuẩn NTM năm 2017, còn đến 67 dự án chưa có vốn để thực hiện, trong khi nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương và của tỉnh đã phân khai hết. Nguồn vốn đầu tư phát triển của tỉnh bổ sung năm 2017, trị giá 2,23 tỷ đồng, đã phân khai cho 3 dự án của xã Gia Lộc (Trảng Bàng).

Cụ thể, xã Cầu Khởi còn đến 47 dự án chưa có vốn thực hiện, gồm 38 dự án giao thông, 5 dự án cơ sở vật chất văn hóa, 4 dự án trường học. Xã Trường Tây còn 7 dự án trường học chưa có vốn thực hiện, tỷ lệ cứng hóa số km đường xóm ấp chỉ đạt trên 17%, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (2,3%),  Tại xã Tân Hưng, tỷ lệ người dân tham gia BHYT mới đạt 66,6% trong khi mức yêu cầu phải đạt trên 85%.

Ban chỉ đạo chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới của tỉnh đã đề ra các biện pháp mạnh mẽ nhằm hoàn thành mục tiêu có thêm 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới vào cuối năm 2017 như sau: Tích cực hoàn thiện bộ máy giúp việc Ban chỉ đạo các cấp theo quyết định số 1920/QĐ-TTg và đổi mới công tác triển khai chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới của các cấp, các ngành, các địa phương trong tỉnh; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức và tính chủ động của người dân và cộng đồng khi tham gia chương trình; Hoàn thành công tác rà soát, đánh giá lại hiện trạng các tiêu chí theo Bộ tiêu chí mới. Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, đề án xây dựng xã NTM cho phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH của huyện và khả năng huy động, bố trí nguồn lực của địa phương; Tập trung chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu sản xuất trên địa bàn xã gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Chú trọng xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu ở xã gắn với phát triển sản xuất và dời sống hàng ngày của người dân; Triển khai nhiều giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện được các tiêu chí như: tỷ lệ người dân tham gia gia BHYT, giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng thu nhập cho người dân, thường xuyên tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường, xử lý rác thải sinh hoạt, tạo cảnh quan xanh-sạch-đẹp…; Ban hành các chính sách về huy động nguồn lực; tăng cường phân cấp cho cấp xã; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và cộng đồng tham gia thực hiện chương trình. Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án, các nhiệm vụ đã được trên giao vốn từ đầu năm; Đối với 8 xã quyết tâm đạt chuẩn xã NTM trong năm 2017, Ban chỉ đạo các địa phương khẩn trương hoàn thành các tiêu chí, chỉ tiêu; chuẩn bị hồ sơ, thủ tục để đoàn cấp trên đến thẩm định.

Các xã cũng đề nghị tỉnh tiếp tục hỗ trợ kinh phí thực hiện các công trình để sớm hoàn thành các tiêu chí về xã đạt chuẩn NTM trong năm nay. Một số xã đề nghị giảm bớt một vài tiêu chí vì điều kiện thực hiện của địa phương và lộ trình hoàn thành còn gặp nhiều khó khăn.

Lê Phát Thăng

18/10/2017 12:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpgXây dựng nông thôn mới7No
Đẩy mạnh công tác bảo tồn đa dạng sinh họcNewĐẩy mạnh công tác bảo tồn đa dạng sinh học
Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học (ĐDSH) đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Chiến lược) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 với mục tiêu bảo tồn và sử dụng bền vững các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, loài, nguồn gen nguy cấp, quý, hiếm, góp phần phát triển đất nước theo định hướng nền kinh tế xanh, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Việc xây dựng Chiến lược quốc gia về ĐDSH đóng vai trò rất quan trọng trong bối cảnh ĐDSH ở Việt Nam đang ngày càng bị suy thoái và bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi, đồng thời giúp Việt Nam thực hiện tốt cam kết quốc gia đối với Công ước ĐDSH.

quocgialogoxamat.jpg

Rừng tại vườn Quốc gia Lò Gò-Xa Mát, Tây Ninh.

Sau 3 năm (2013-2016), việc triển khai thực hiện Chiến lược, công tác bảo tồn ĐDSH bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng. Tính đến tháng 10/2016, có 43/63 tỉnh, thành phố đã hoàn thành xây dựng Kế hoạch hành động ĐDSH và 13/63 tỉnh đã phê duyệt quy hoạch bảo tồn ĐDSH; 166/176 khu rừng đặc dụng được thiết lập với diện tích 2.106.051 ha, chiếm 6,36% diện tích lãnh thổ; tỷ lệ che phủ rừng đạt 40,84% (tính đến 31/12/2015); 10/16 khu bảo tồn biển được thành lập, với diện tích là 111.211 ha, chiếm 0,11% diện tích vùng biển trên cả nước (tính đến tháng 6/2016), trong đó có 6 khu bảo tồn biển đã chính thức đi vào hoạt động. Đặc biệt có 8 khu Ramsar, 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới, 2 khu di sản thiên nhiên thế giới và 5 Vườn di sản ASEAN đã được quốc tế công nhận (tính đến tháng 6/2016).

Các nhiệm vụ của Chiến lược đã được triển khai ở cấp Trung ương và địa phương trên tất cả các lĩnh vực: bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên; bảo tồn các loài hoang dã và các giống vật nuôi, cây trồng nguy cấp, quý, hiếm; sử dụng bền vững và thực hiện cơ chế chia sẻ hợp lý lợi ích từ dịch vụ hệ sinh thái và ĐDSH; kiểm soát các hoạt động gây tác động xấu đến ĐDSH; bảo tồn ĐDSH trong bối cảnh BĐKH. Hiện đã có 7 Nghị định và 1 Chỉ thị của Chính phủ; 11 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 11 Thông tư được ban hành. Ngoài ra, còn có 2/7 chương trình đề án ưu tiên đã được các Bộ chủ trì xây dựng và triển khai thực hiện.   Để tăng cường công tác bảo tồn loài và nguồn gen, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, trong đó có 17 loài thực vật, 83 loài động vật, 15 giống cây trồng và 6 giống vật nuôi được ưu tiên bảo vệ; Quyết định số 1671/2015/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 1141/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tăng cường năng lực về quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen giai đoạn 2016 - 2025.

Tại Tây Ninh, công tác bảo tồn đa dạng sinh học được cải thiện; tỉnh đang triển khai xây dựng “Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”. Năm 2016, 2017,  tỉnh tổ chức thực hiện 05 dự án và 03 đề tài nghiên cứu khoa học, chủ yếu trên địa bàn Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát. Cụ thể, có 05 dự án, gồm: Giám sát đa dạng sinh học và giám sát sử dụng tài nguyên rừng, dịch vụ môi trường rừng; Xây dựng cơ sở dữ liệu theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; Điều tra, đánh giá, theo dõi môi trường nước; Kiểm kê và giám sát sinh vật ngoại lai xâm hại; Báo cáo hiện trạng đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát. 03 đề tài nghiên cứu khoa học, gồm: Điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc; Nghiên cứu bảo tồn các loài Linh Trưởng và Bảo tồn các loài thú ăn thịt nhỏ ở Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát.

Bên cạnh các kết quả đạt được, việc thực hiện Chiến lược trong thời gian qua cũng đã bộc lộ một số bất cập, cụ thể như công tác phân công và phân cấp quản lý nhà nước về ĐDSH còn chưa rõ ràng; tổ chức bộ máy quản lý nhà nước (QLNN) về ĐDSH còn phân tán và thiếu đồng bộ; sự phối hợp giữa các Bộ/ngành ở cấp Trung ương và địa phương trong công tác bảo tồn ĐDSH chưa được chặt chẽ; các quy định của pháp luật về bảo tồn ĐDSH chưa được triển khai một cách đầy đủ; công tác thực thi pháp luật bị hạn chế do thiếu nguồn lực; các chế tài xử phạt vi phạm hành chính chưa được thực thi nghiêm minh, thiếu các quy định để triển khai các hoạt động tố tụng hình sự.

Nguồn lực cho bảo tồn ĐDSH còn hạn chế, trong đó nguồn nhân lực làm công tác bảo tồn ĐDSH còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp huyện, xã; nguồn lực tài chính chủ yếu vẫn dựa vào nguồn ngân sách nhà nước (khoảng từ 60-80%); nguồn tài chính quốc tế phụ thuộc vào nguồn tài trợ (ODA) cho các dự án ngắn hạn nên khó có thể thực hiện các cam kết bảo tồn trong dài hạn và thường phân bổ không đều; thiếu các chính sách cụ thể để huy động đóng góp hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân cho hoạt động bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam.

Các thông tin và cơ sở dữ liệu về ĐDSH phân tán ở nhiều cơ quan quản lý và nghiên cứu; chất lượng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về ĐDSH không đồng bộ, do vậy hạn chế trong việc chia sẻ và sử dụng thông tin. Tại Tây Ninh, công tác quản lý nhà nước về bảo tồn đa dạng sinh học và trong lĩnh vực khí tượng thủy văn chưa được chặt chẽ.

Bảo tồn ĐDSH trong bối cảnh BĐKH đã bước đầu được quan tâm, nhưng các chính sách bảo tồn ĐDSH đặt trong bối cảnh BĐKH còn chưa nhiều, cụ thể như thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái, lồng ghép ứng phó với BĐKH vào các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (như xóa đói giảm nghèo, tăng cường an ninh lương thực, phát triển sinh kế bền vững) ở những vùng có tính ĐDSH cao và chịu tác động lớn từ BĐKH, lồng ghép bảo tồn ĐDSH trong Chiến lược quốc gia về BĐKH.

  Tăng cường công tác bảo tồn và sử dụng bền vững ĐDSH, triển khai thực hiện chiến lược quốc gia về ĐDSH

Để tăng cường công tác bảo tồn, sử dụng bền vững ĐDSH và thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình đề án ưu tiên của Chiến lược, trong thời gian tới (2017 - 2020) cần tập trung giải quyết những vấn đề:

Củng cố về thể chế, hệ thống QLNN về ĐDSH nhằm quản lý một cách thống nhất, hiệu quả và toàn diện. Ở cấp Trung ương, cần làm rõ vai trò, kiện toàn chức năng, nhiệm vụ của Bộ TN&MT với tư cách là cơ quan đầu mối để đảm bảo thực hiện chức năng QLNN tổng thể về bảo tồn và phát triển ĐDSH trên toàn quốc theo Luật ĐDSH đã quy định. Đồng thời, làm rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ các Bộ, ngành khác với tư cách là các cơ quan quản lý chuyên ngành trong công tác QLNN về ĐDSH. Xác định cơ chế chủ trì và phối hợp giữa các Bộ, ngành quản lý trong việc xây dựng và ban hành chính sách để tránh trùng lặp, chồng chéo giữa các chính sách (ban hành theo các luật khác nhau) về cùng một đối tượng, nội dung ĐDSH (khu bảo tồn, loài, nguồn gen). Ở cấp địa phương, cần tăng cường bộ máy QLNN ở cấp tỉnh, đẩy mạnh việc thành lập đơn vị chuyên trách về bảo tồn ĐDSH tại địa phương (trong Chi cục Bảo vệ môi trường), bổ sung 1 biên chế có chuyên môn, nghiệp vụ về bảo tồn ĐDSH trước mắt là tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có các Vườn quốc gia, khu bảo tồn trên địa bàn quản lý.

Hoàn thiện luật pháp và chính sách bảo tồn ĐDSH: Luật ĐDSH ra đời là một bước tiến lớn giúp hệ thống hóa vấn đề bảo tồn ĐDSH. Tuy nhiên, một số quy định trong Luật ĐDSH (2008) và Luật Bảo vệ và phát triển rừng (2004), Luật Thủy sản (2003) chưa được phân định rõ ràng, dẫn đến chồng chéo và khó khăn trong quá trình thực thi. Do đó, cần rà soát, sửa đổi các Luật nêu trên theo hướng các quy định về ĐDSH trong các Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Thủy sản phải phù hợp và thống nhất với các quy định của Luật ĐDSH; trong trường hợp một số quy định của Luật ĐDSH còn bất cập thì sửa đổi, bổ sung cho phù hợp và thống nhất.

Tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật ĐDSH: Quan tâm, thực hiện nghiêm và đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo tồn thiên nhiên và ĐDSH trong các hoạt động quy hoạch phát triển; xem xét, phê duyệt chủ trương đầu tư các dự án có ảnh hưởng xấu đến ĐDSH, trong đó đặc biệt lưu ý lồng ghép bảo tồn ĐDSH trong các công cụ đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường; Rà soát, điều chỉnh, hoàn thiện khung pháp lý về quản lý và bảo vệ các loài động vật hoang dã bảo đảm tính khả thi, thống nhất và đồng bộ; Tăng cường và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng, đặc biệt là Công an, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Bộ đội biên phòng, An ninh hàng không, Cơ quan quản lý CITES Việt Nam, Interpol… để trao đổi, chia sẻ, phối hợp xử lý thông tin về các đối tượng và tương trợ tư pháp về điều tra hình sự đối với các tội phạm buôn bán, vận chuyển trái phép động, thực vật hoang dã và sản phẩm của động, thực vật hoang dã; Tăng cường năng lực cho cơ quan thực thi pháp luật để kiểm soát tiêu thụ động vật hoang dã trái phép; Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức và trách nhiệm của các cấp, ngành và cán bộ làm công tác quản lý ĐDSH.

Phát triển nguồn lực cho bảo tồn ĐDSH: Tăng cường đào tạo cán bộ nòng cốt cho công tác bảo tồn ĐDSH từ Trung ương đến địa phương; bố trí kinh phí ổn định, thường xuyên cho hoạt động QLNN về ĐDSH ở cấp Trung ương và địa phương; xây dựng chính sách đầu tư và tài chính dài hạn của Nhà nước cho bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 hoặc 2015 - 2025; đa dạng hóa các nguồn tài chính; đẩy mạnh nghiên cứu và áp dụng các cơ chế tài chính mới để hỗ trợ cho công tác bảo tồn (tài chính các bon, chi trả dịch vụ có liên quan đến ĐDSH, bồi hoàn ĐDSH, tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích); xây dựng cơ chế huy động tài chính trong nước (từ doanh nghiệp, cộng đồng, cá nhân…) dựa trên các khuyến khích kinh tế (giảm thuế, phí..), đẩy mạnh hợp tác công tư trong bảo tồn ĐDSH.

 Củng cố thông tin và cơ sở dữ liệu về ĐDSH: Thiết lập và áp dụng hệ thống báo cáo, chia sẻ thông tin và cơ sở dữ liệu về ĐDSH ở các cấp (quốc gia, tỉnh, khu bảo tồn) và tiến tới đưa các thông tin về ĐDSH vào hệ thống thống kê quốc gia.

Xây dựng chính sách và đầu tư nguồn lực để thực hiện các chính sách về bảo tồn ĐDSH trong bối cảnh BĐKH (thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái), lồng ghép ứng phó với BĐKH vào các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (như xóa đói giảm nghèo, tăng cường an ninh lương thực, phát triển sinh kế bền vững) ở những vùng có tính ĐDSH cao và chịu tác động lớn từ BĐKH, lồng ghép bảo tồn ĐDSH trong chiến lược quốc gia về BĐKH.

Tại Tây Ninh, năm 2018, tỉnh sẽ tập trung nâng cao năng lực quản lý và thực thi Luật Đa dạng sinh học đến các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Trong đó, xây dựng và ban hành văn bản quy định về việc bảo vệ các loài động vật có xương sống trong danh sách ưu tiên bảo tồn; tổ chức triển khai Luật Đa dạng sinh học và “Kế hoạch hành động bảo tồn đa dạng sinh học của tỉnh Tây Ninh năm 2010 và định hướng đến năm 2020” của UBND tỉnh cho cán bộ từ cấp tỉnh đến xã, phường, thị trấn. Tổ chức kiểm tra giám sát việc thực hiện bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học tại các khu, điểm du lịch và du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh. Xây dựng mô hình quản lý, bảo vệ rừng và sử dụng rừng bền vững dựa vào cộng đồng tại tỉnh Tây Ninh.

Đồng thời, phòng ngừa, ngăn chặn sự xâm nhập của sinh vật ngoại lai, sinh vật biến đổi gen gây ảnh hưởng xấu đến môi trường bằng biện pháp kiểm kê và giám sát sinh vật ngoại lai xâm hại ở các khu rừng phòng hộ, đặc dụng trên địa bàn tỉnh trên địa bàn tỉnh; tăng cường kiểm tra, giám sát các khu vực cửa khẩu biên giới.

Cùng với đó, điều tra, khảo sát, đánh giá và bảo tồn các giống loài động vật, thực vật, vi sinh vật quý hiếm có nguy cơ bị tiệt chủng trong danh mục cần bảo vệ theo thẩm quyền của UBND tỉnh Tây Ninh. Điều tra, khảo sát, đánh giá và đề xuất các giải pháp bảo tồn các giống loài động vật, thực vật, vi sinh vật quý hiếm có nguy cơ bị tiệt chủng ở các khu rừng đặc dụng, phòng hộ trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; tăng cường thanh, kiểm tra, xử lý vi phạm các cơ sở gây nuôi động vật hoang dã.

Ngoài ra, Bảo vệ các vùng đất ngập nước, các hệ sinh thái thủy sinh. Điều tra tổng thể và đánh giá hiện trạng môi trường các vùng đất ngập nước trên địa bàn tỉnh Tây Ninh do UBND tỉnh quản lý.

MN (TH nguồn từ vea.gov.vn)

18/10/2017 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/quocgialogoxamat_Key_18102017104711.jpgBảo vệ môi trường5MNNo
Tăng cường tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường thông qua đường dây nóngNewTăng cường tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường thông qua đường dây nóng
Trong thời gian qua, tình hình ô nhiễm môi trường và các sự cố môi trường có xu hướng ngày càng gia tăng trên phạm vi cả nước. Cùng với đó, các thông tin phản ánh, kiến nghị của người dân và báo chí đối với các vấn đề môi trường ngày một đa dạng và mang tính thời sự. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, công tác tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh về ô nhiễm môi trường từ Trung ương đến địa phương còn lúng túng; chưa nắm bắt kịp thời, xử lý nhanh các thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân.

Để tăng cường tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về ô nhiễm môi trường, phát huy vai trò của người dân và cộng đồng trong bảo vệ môi trường, tạo bước chuyển biến trong công tác ứng phó, xử lý ô nhiễm môi trường, ngày 10/10/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành chỉ thị số 03/CT-BTNMT yêu cầu lập, vận hành đường dây nóng (gồm số điện thoại và địa chỉ thư điện tử) để tiếp nhận, xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về ô nhiễm môi trường từ Trung ương đến địa phương hoạt động thông suốt, liên tục 24/24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ.

Trong đó, Tổng cục Môi trường thiết lập, công khai đường dây nóng của Bộ Tài nguyên và Môi trường (gọi tắt là đường dây nóng cấp trung ương), công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, của Tổng cục Môi trường. Hoàn thành trước 30/10/2017. Sở Tài nguyên và Môi trường thiết lập, chấn chỉnh đường dây nóng của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là đường dây nóng cấp địa phương), công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh, thành phố và trang thông tin điện tử của Sở Tài nguyên và Môi trường. Hoàn thành trước 15/11/2017.  Xây dựng, ban hành, thực hiện quy trình tiếp nhận, xác minh, xử lý và phản hồi thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường qua đường dây nóng: Cụ thể Tổng cục Môi trường xây dựng, ban hành quy trình tiếp nhận, xác minh, xử lý và phản hồi thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường thống nhất từ trung ương đến địa phương (kèm theo danh mục hệ thống đường dây nóng). Hoàn thành trước 30/11/2017. Tổng cục Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thống nhất quy trình tiếp nhận, xác minh, xử lý và phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường.

Tổng cục Môi trường chỉ định một đơn vị trực thuộc Tổng cục làm đầu mối vận hành, quản lý đường dây nóng cấp trung ương; bố trí cán bộ thường trực 24/24 giờ để tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị qua đường dây nóng. Đồng thời chịu trách nhiệm xử lý, phản hồi thông tin đối với các trường hợp: các vấn đề ô nhiễm môi trường có tính chất liên vùng, liên tỉnh; các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường thuộc thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (hoặc văn bản tương đương) của Bộ Tài nguyên và Môi trường và của các Bộ có chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; Bố trí kinh phí thường xuyên cho việc quản lý, vận hành đường dây nóng cấp Trung ương; kinh phí cho việc xác minh, xử lý, phản hồi thông tin qua đường dây nóng cấp Trung ương theo thẩm quyền; đầu mối theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường thông qua đường dây nóng trên phạm vi cả nước; định kỳ hàng tháng, quý, năm tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng kết quả thực hiện.

Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Quy định cụ thể và bố trí cán bộ thường trực 24/24 giờ để tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị qua đường dây nóng cấp địa phương; Chịu trách nhiệm xử lý, phản hồi thông tin đối với các trường hợp: các vấn đề ô nhiễm môi trường diễn ra trên địa bàn thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của ủy ban nhân dân các cấp;...Bố trí kinh phí thường xuyên cho việc quản lý, vận hành đường dây nóng cấp địa phương; kinh phí cho việc xác minh, xử lý, phản hồi thông tin qua đường dây nóng cấp địa phương theo thẩm quyền; Định kỳ tổng hợp, báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường (thông qua Tổng cục Môi trường) trước ngày 30 hàng tháng về kết quả tiếp nhận, xử lý và phản hồi thông tin qua đường dây nóng cấp địa phương.

MN

18/10/2017 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpgBảo vệ môi trường5MNNo
Cần đầu tư thêm hệ thống tiêu thoát nước cho nông nghiệp NewCần đầu tư thêm hệ thống tiêu thoát nước cho nông nghiệp
Thời gian qua, tình trạng ngập úng đã xảy ra khá nghiêm trọng tại một số cánh đồng ở tỉnh. Đồng ruộng bị ngập do thiếu kênh tiêu thoát nước, gây thiệt hại cho nông dân. Có cánh đồng bị ngập nặng nhiều năm nhưng chính quyền không có giải pháp xử hiệu quả, dẫn đến tình trạng người dân bỏ ruộng hoang.

Cần đầu tư thêm hệ thống tiêu thoát nước cho nông nghiệp

Người dân canh tác lúa tại Bàu Thâm Vô bơm nước cứu lúa.

Hệ thống công trình thuỷ lợi Tây Ninh hiện đang phục vụ tốt cho ngành nông nghiệp của tỉnh và đời sống của người dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó, do hệ thống công trình được xây dựng đã lâu và chưa được đầu tư đúng mức nên chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển nông nghiệp trong tình hình mới.

Thời gian qua, tình trạng ngập úng đã xảy ra khá nghiêm trọng tại một số cánh đồng ở tỉnh. Đồng ruộng bị ngập do thiếu kênh tiêu thoát nước, gây thiệt hại cho nông dân. Có cánh đồng bị ngập nặng nhiều năm nhưng chính quyền không có giải pháp xử hiệu quả, dẫn đến tình trạng người dân bỏ ruộng hoang.

Đơn cử như cánh đồng Bàu Thâm Vô (ấp 2, xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu), có diện tích khoảng 80 ha. Hai năm gần đây, cứ vào mùa mưa là cánh đồng bị ngập úng cục bộ, gây hư hỏng lúa, hoa màu của người dân. Người dân đã nhiều lần kiến nghị ngành chức năng có giải pháp cứu cánh đồng này nhưng chưa được giải quyết.

Nông dân địa phương cho hay, trước đây cánh đồng này mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người dân. Ngoài lúa, người dân còn trồng mì, đậu, bắp. 2 năm trở lại đây, phần lớn diện tích của cánh đồng bị ngập cục bộ do không có đường thoát nước, nước ngập sâu, nông dân phải bơm nước để cứu lúa. Tuy nhiên, đa số diện tích được cứu chỉ đạt năng suất 40% - 50% so với trước và giá bán rất thấp, khiến người trồng lúa lỗ nặng. Trước tình trạng này, nhiều hộ đang có ý định chuyển sang trồng sen.

Theo một lãnh đạo chính quyền xã Bàu Đồn, trước việc cánh đồng Bàu Thâm Vô bị ngập, huyện Gò Dầu và xã đã khảo sát, tìm ra nguyên nhân là vì 1 hộ dân bịt kín kênh tiêu thoát nước do có tranh chấp liên quan đến đất kênh tiêu. Chính quyền địa phương đã nhiều lần vận động, giải quyết nhưng vẫn chưa xong.

Trong khi đó, tại cánh đồng Miễu Xe Lam (ấp Ninh Bình, xã Bàu Năng, huyện Dương Minh Châu), mùa mưa hàng năm đều bị ngập úng cục bộ. Lãnh đạo UBND xã Bàu Năng cho biết, cánh đồng có diện tích hơn 100 ha, dù có kênh tiêu nhưng không thoát hết nước cho cả cánh đồng rộng lớn; đồng thời nước mưa từ khu vực núi Bà Đen đổ về đây đã gây ngập cục bộ.

Nhiều năm qua, nông dân canh tác tại cánh đồng này thường xuyên bị mất mùa. Người dân đã nhiều lần kiến nghị chính quyền có giải pháp tiêu thoát nước, giúp nông dân sản xuất nông nghiệp hiệu quả. 

Theo ngành Thuỷ lợi tỉnh, hệ thống kênh tiêu chưa được đầu tư tương xứng với hệ thống tưới. Hầu hết các kênh tiêu không được nạo vét, tu bổ. Mạng lưới tiêu nước nội đồng còn thiếu nhiều nên còn gây ngập úng cục bộ. Việc phân cấp quản lý hệ thống kênh tiêu chưa được cụ thể, rõ ràng. Một số kênh tiêu bị người dân lấn chiếm gây ảnh hưởng đến việc thoát nước.

Một cán bộ ngành Thuỷ lợi cho biết, một trong những nhiệm vụ quan trọng của công trình thuỷ lợi là phục vụ cho phát triển nông nghiệp và thuỷ sản, trong đó có cấp nước cho tưới cây trồng, chăn nuôi, thuỷ sản. Vì vậy, mục tiêu của quy hoạch tưới là huy động được các tiềm lực có thể của địa phương, để khai thác tối đa nguồn nước phục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản, bảo đảm sản xuất ổn định và bền vững.

 Mặt khác, trước thực tế đang diễn ra, ngành Thuỷ lợi cũng đã chú trọng quy hoạch tiêu nước và phòng chống lũ. Theo đó, đối với những nơi đang có hệ thống tiêu nước thì tiếp tục hoàn chỉnh, mở rộng, bảo đảm tiêu thoát nước theo thiết kế, không để xảy ra ngập lụt, bảo đảm sản xuất ổn định. Những nơi chưa có hệ thống kênh tiêu phải sớm tiến hành đầu tư.

Được biết, ngành Nông nghiệp tỉnh đã xây dựng xong quy hoạch thuỷ lợi của tỉnh giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030, trong đó có quy hoạch hệ thống tiêu nước, sau khi được chính thức thông qua và triển khai sẽ phục vụ hiệu quả cho ngành nông nghiệp.

Theo Báo Tây Ninh Online

17/10/2017 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/dau tu_Key_17102017100521.jpgXây dựng nông thôn mới17Báo Tây Ninh OnlineNo
Khởi công xây dựng đường nông thôn Bàu Tràm - An ĐướcNewKhởi công xây dựng đường nông thôn Bàu Tràm - An Đước
Ngày 15.10, UBND xã An Tịnh (huyện Trảng Bàng) tổ chức lễ khởi công công trình đường nông thôn Bàu Tràm - An Đước.

Khởi công xây dựng đường nông thôn Bàu Tràm - An Đước

Tuyến đường Bàu Tràm – An Đước được thi công.

Đến dự lễ có các đại biểu Trần Văn Khải- Phó Trưởng Ban Tuyên Giáo Tỉnh ủy Tây Ninh, Lê Anh Tuấn- Trưởng Ban Kinh tế ngân sách HĐND tỉnh, Trương Nhật Quang- Bí thư Huyện ủy Trảng Bàng, ông Nguyễn Thảo- nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh. 

Hiện trạng tuyến đường Bàu Tràm- An Đước là đường sỏi đỏ, đã xuống cấp, hư hỏng, gây khó khăn cho việc đi lại của nhân dân, cử tri đã phản ánh từ nhiều năm nay.

Trong kháng chiến, tuyến đường Bàu Tràm – An Đước đã góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Để đền đáp công ơn của nhân dân xã An Tịnh, mới đây, Bộ Quốc phòng đã vận động các doanh nghiệp hỗ trợ xã An Tịnh trên 7,6 tỷ đồng để láng nhựa tuyến đường Bàu Tràm – An Đước, tạo thuận lợi cho nông dân vận chuyển, tiêu thụ nông sản, góp phần cải thiện hạ tầng giao thông, phục vụ nhu cầu dân sinh.

Tổng đầu tư con đường trên 7,6 tỷ đồng, trong đó giá trị xây lắp hơn 5,8 tỷ đồng,. Công trình đường Bàu Tràm – An Đước có chiều dài khoảng 3,2km, dự kiến hoàn thành, đưa vào sử dụng sau 150 ngày thi công.

Theo Báo Tây Ninh Online

17/10/2017 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/khoi cong_Key_17102017101047.JPGXây dựng nông thôn mới15Báo Tây Ninh OnlineNo
Phân cấp nhiệm vụ chi kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trườngNewPhân cấp nhiệm vụ chi kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường
Ngày 27/9/2017, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết 29/2017/NQ-HĐND phân cấp nhiệm vụ chi kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Theo Nghị quyết, nhiệm vụ chi bảo vệ môi trường của ngân sách tỉnh bao gồm xây dựng, điều chỉnh chiến lược, kế hoạch, quy trình kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật môi trường, chương trình, đề án về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh; Xây dựng, thẩm định và công bố quy hoạch bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh; hoạt động thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của tỉnh; thẩm định các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường được chi từ nguồn sự nghiệp môi trường, thuộc trách nhiệm của tỉnh; Hoạt động của hệ thống quan trắc và phân tích môi trường do các cơ quan, đơn vị địa phương quản lý theo Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia; xây dựng và thực hiện các chương trình quan trắc hiện trạng môi trường, các tác động đôi với môi trường của tỉnh; Hỗ trợ công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường của tỉnh; xác định khu vực bị ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật vê bảo vệ môi trường; phòng ngừa, ứng phó khắc phục sự cố môi trường của tỉnh; Hỗ trợ công tác quản lý chất thải, điều tra, đánh giá các nguồn thải gây ô nhiễm môi trường, đánh giá sức chịu tải của môi trường thuộc nhiệm vụ của tỉnh theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; thống kê, cập nhật tình hình phát sinh chất thải, sản phẩm thải bỏ; Hỗ trợ công tác xử lý ô nhiễm môi trường theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt (Dự án xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc khu vực công ích do tỉnh quản lý; Hỗ trợ hoạt động thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý và chôn lấp chất thải sinh hoạt tại địa phương; Dự án về bảo vệ môi trường khác theo quyết định của UBND tỉnh); Hỗ trợ công tác bảo tồn đa dạng sinh học theo quy định về quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí từ ngân sách nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, dự án theo Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học; Xây dựng và duy trì hoạt động hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về môi trường; thống kê môi trường, xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê môi trường địa phương; báo cáo công tác bảo vệ môi trường của tỉnh; Quản lý các công trình vệ sinh công cộng; hỗ trợ thiết bị, phương tiện thu gom rác thải, vệ sinh môi trường ở nơi công cộng, khu dân cư theo quyết định của UBND tỉnh; hỗ trợ các hoạt động bảo vệ môi trường của các tổ chức tự quản về môi trường. Nội dung hỗ trợ cụ thể do ủy ban nhân dân tỉnh quy định; Hỗ trợ duy trì, vận hành các công trình xử lý ô nhiễm môi trường công cộng; hỗ trợ sửa chữa, cải tạo các công trình hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường cho các làng nghề được khuyến khích phát triển; Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ môi trường; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ về bảo vệ môi trường; chi giải thưởng, khen thưởng về bảo vệ môi trường cho các tổ chức, cá nhân được cấp có thẩm quyền quyết định; Hỗ trợ công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường thuộc trách nhiệm của địa phương và theo quyết định của cấp có thẩm quyền; Hoạt động kiểm tra các công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành dự án; hoạt động kiểm tra việc hoàn thành đề án bảo vệ môi trường chi tiết; kiểm tra, xác nhận hoàn thành khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường, hoạt động kiểm tra việc thực hiện giấy chứng nhận, giấy phép về môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, thuộc trách nhiệm của tỉnh; Hoạt động của Ban chỉ đạo, Ban điều hành, Văn phòng thường trực về bảo vệ môi trường được UBND tỉnh quyết định; Vốn đối ứng các dự án hợp tác quốc tế có tính chất chi sự nghiệp về bảo vệ môi trường; Các hoạt động bảo vệ môi trường khác thuộc trách nhiệm của tỉnh.

Về nhiệm vụ chi bảo vệ môi trường của ngân sách cấp huyện bao gồm hỗ trợ công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường của huyện; phòng ngừa, ứng phó khắc phục sự cố môi trường của huyện; Hỗ trợ công tác thống kê, cập nhật tình hình phát sinh chất thải, sản phẩm thải bỏ; Thống kê môi trường, báo cáo công tác bảo vệ môi trường của huyện; Quản lý các công trình vệ sinh công cộng; hỗ trợ thiết bị, phương tiện thu gom rác thải, vệ sinh môi trường ở nơi công cộng, khu dân cư theo quyết định của UBND tỉnh; hỗ trợ các hoạt động bảo vệ môi trường của các tổ chức tự quản về môi trường. Nội dung hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định; Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ môi trường; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ về bảo vệ môi trường; chi giải thưởng, khen thưởng về bảo vệ môi trường cho các tổ chức, cá nhân được cấp có thẩm quyền quyết định; Hỗ trợ công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường thuộc trách nhiệm của huyện và theo quyết định của UBND tỉnh; Hoạt động xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường; xác nhận đề án bảo vệ môi trường đơn giản theo quy định; Hợp đồng lao động để thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ công tác bảo vệ môi trường cấp huyện; Các hoạt động bảo vệ môi trường khác thuộc trách nhiệm của huyện.

Về nhiệm vụ chi bảo vệ môi trường của ngân sách cấp xã bao gồm hỗ trợ công tác thống kê, cập nhật tình hình phát sinh chất thải và kiểm soát ô nhiễm môi trường của xã; hỗ trợ hoạt động quản lý, thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải trên địa bàn xã; Hỗ trợ công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường thuộc trách nhiệm của xã và theo quyết định của UBND tỉnh; Các hoạt động bảo vệ môi trường khác thuộc trách nhiệm của xã.

Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh Khóa IX Kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 27 tháng 9 năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 09 tháng 10 năm 2017. Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 45/2011/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc phê chuẩn phân cấp nhiệm vụ chi sự nghiệp bảo vệ môi trường

MN

17/10/2017 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpgBảo vệ môi trường14MNNo
Đoàn Thanh niên thành phố Tây Ninh tuyên truyền an toàn giao thông cho cán bộ đoàn viên, hội viên, thanh niênĐoàn Thanh niên thành phố Tây Ninh tuyên truyền an toàn giao thông cho cán bộ đoàn viên, hội viên, thanh niên
Nhằm nâng cao ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ cho đoàn viên, thanh niên, ngày 13/10/2017, Đoàn Thanh niên thành phố Tây Ninh phối hợp cùng Đoàn Thanh niên phường 2 tổ chức hội nghị tuyên truyền an toàn giao thông cho các cán bộ đoàn viên, hội viên, thanh niên trên địa bàn phường.

DSC00993.JPG

Hội nghị tuyền truyền ATGT cho đoàn viên, thanh niên phường 2.

Tại các buổi tuyên truyền, cán bộ đoàn viên, hội viên thanh niên của phường được nghe tuyên truyền về Luật Giao thông đường bộ năm 2008, Nghị định 46 năm 2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, những quy tắc tham gia giao thông. Đồng thời, được nghe thông tin về tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh, thành phố thời gian qua. Theo thống kê của ngành chức năng, trong 9 tháng năm 2017, trên địa bàn thành phố xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8 người, bị thương 12 người, tăng so với cùng kỳ cả về số vụ, số người chết và số người bị thương. Qua đó, phân tích nguyên nhân các vụ tai nạn giao thông hiện nay là do người điều khiển phương tiện uống rượu, bia khi lái xe, chạy xe quá tốc độ quy định; chuyển hướng, qua đường không chú ý quan sát, đi không đúng làn đường quy định, không chấp hành biển báo, đèn tín hiệu giao thông...

Được biết, theo kế hoạch trong tháng 10 năm 2017, Đoàn Thanh niên thành phố Tây Ninh phối hợp cùng Đoàn Thanh niên 10 phường, xã của thành phố tổ chức các buổi tuyên truyền an toàn giao thông cho các cán bộ đoàn viên, hội viên, thanh niên ở địa phương.

Qua các buổi tuyên truyền nhằm nhắc nhở, nâng cao ý thức của đoàn viên, thanh niên thành phố cần nghiêm túc chấp hành Luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông trên đường, tránh tai nạn giao thông đáng tiếc xảy ra, góp phần kéo giảm tai nạn giao thông trên địa bàn.

Nhật Quang

16/10/2017 5:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/DSC00993_Key_16102017161053.JPGAn toàn giao thông31Nhật QuangNo
Thành đoàn Tây Ninh khởi công bê tông hóa tuyến đường giao thông nội thị từ nguồn kinh phí vận động nhân dân Thành đoàn Tây Ninh khởi công bê tông hóa tuyến đường giao thông nội thị từ nguồn kinh phí vận động nhân dân
Ngày 14/10/2017, Thành đoàn Tây Ninh tổ chức lễ khởi công bê tông hóa tuyến đường tổ 3, khu phố Ninh Phước, phường Ninh Thạnh, thành phố từ nguồn kinh phí vận động nhân dân. Đây là công trình thanh niên chào mừng thành công Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Tây Ninh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2017 – 2022.

IMG_4716.JPG

Đoàn viên thanh niên, học sinh, bảo vệ dân phố, dân quân của phường tham gia làm đường.

Tuyến đường đường tổ 3, khu phố Ninh Phước, phường Ninh Thạnh có chiều dài khoảng 100m, ngang 2,5m. Trước thực trạng đường đất nhiều ổ gà, vào mùa mưa thường sình lầy, gây khó khăn cho người dân trong việc đi lại, Thành đoàn Tây Ninh cùng Đoàn phường Ninh Thạnh đã vận động người dân sống 2 bên tuyến đường đóng góp kinh phí mua vật tư để nâng cấp thành đường bê tông. Qua đó, đã nhận được sự đồng tình ủng hộ của người dân. Trung bình mỗi hộ dân đóng góp khoảng 2 triệu đồng, tùy vào chiều dài đất của mỗi hộ.

Thành đoàn Tây Ninh cho biết, tổng kinh phí mua vật tư thi công tuyến đường gần 30 triệu đồng. Bước đầu, Thành đoàn và Đoàn phường sẽ vận động lực lượng đoàn viên thanh niên, học sinh, bảo vệ dân phố, dân quân tự vệ của phường và nhân dân cùng tham gia bang đá nền, đến tháng 11 sẽ tiến hành đổ bê tông. Dự kiến giữa tháng 11/2017 công trình sẽ hoàn thành.

Huy Hoàng

16/10/2017 5:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/IMG_4716_Key_16102017162229.JPGXây dựng nông thôn mới13Huy HoàngNo
Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Tây NinhHội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Tây Ninh
Kết quả và những giải pháp trọng tâm cần tiếp tục thực hiện góp phần nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ trong thời kỳ hội nhập trên địa bàn tỉnh.

Phụ nữ Tây Ninh chiếm 50,52% dân số và 50,44% lực lượng lao động. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng với chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách , tạo cơ hội để phụ nữ được học tập, nâng cao trình độ, năng lực, khẳng định vai trò, vị thế của mình trong gia đình và xã hội. Với sự tham gia ngày càng nhiều vào các vị trí trong hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội, phụ nữ Tây Ninh đã góp phần quan trọng vào việc lãnh đạo, triển khai và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ địa phương, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh nhà.
Trong những năm qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) tỉnh Tây Ninh đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập trung vào những vấn đề có trọng tâm, trọng điểm nhằm phát huy truyền thống và vai trò chủ thể của phụ nữ trong gia đình và tham gia phát triển kinh tế, xã hội. Cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền về những vấn đề liên quan mật thiết đến phụ nữ, các cấp Hội đã có nhiều hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ phụ nữ nâng cao kiến thức, kỹ năng về tổ chức cuộc sống gia đình, kiến thức về giới; thành lập các mô hình, câu lạc bộ “Xây dựng gia đình hạnh phúc”, “hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế”... giúp chị em phát huy tính tự trọng, tự chủ, làm tốt vai trò chăm lo vun đắp hạnh phúc gia đình và quan tâm đến cộng đồng, xã hội.
Phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” được các cấp Hội và phụ nữ trong tỉnh tích cực hưởng ứng. Trong 5 năm qua, có 189.329 cán bộ, hội viên, phụ nữ đăng ký thực hiện phong trào; có 155.249 cán bộ, hội viên, phụ nữ đạt danh hiệu “Phụ nữ tiên tiến”, chiếm tỷ lệ 82%, trong đó có 20.917 cán bộ, hội viên phụ nữ  đạt danh hiệu “Phụ nữ xuất sắc”.
Chiếm 50,44% lực lượng lao động, phụ nữ Tây Ninh hăng hái lao động, sản xuất, kinh doanh, tham gia phong trào thi đua chung sức xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Chị em tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đa dạng hóa ngành nghề và hoạt động tạo ra các sản phẩm nông nghiệp an toàn; ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao trong sản xuất để tăng giá trị sản phẩm, tham gia bảo vệ môi trường, giúp nhau thoát nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng; trên 50 ngàn phụ nữ được vay vốn sản xuất, mua bán; giới thiệu việc làm tại các khu công nghiệp, khu chế xuất cho trên 42 ngàn lao động nữ; dạy nghề cho gần 16 ngàn lao động nữ và sau học nghề có việc làm gần 11 ngàn lao động; giúp trên 40 ngàn hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ phát triển kinh tế, trong đó có trên 14 ngàn hộ thoát nghèo.
Trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ ngày càng nhận thức đầy đủ và tích cực, chủ động thực hiện quyền công dân, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Nhờ triển khai mạnh mẽ và đồng bộ các giải pháp nên công tác cán bộ nữ đã có bước chuyển biến tích cực. So với nhiệm kỳ trước, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy, Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước các cấp đều tăng về số lượng và chất lượng, cụ thể nhiệm kỳ 2015-2020 tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy cấp tỉnh 15,69% (tăng 2,96%); cấp huyện 16,58% (tăng 1,99%); cấp cơ sở 25,23% (tăng 1,84%); tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021 cấp tỉnh 28,85% (tăng 1,40%); cấp huyện 26,89% (tăng 1,81%); cấp cơ sở 26,12% (tăng 3,49%). 100% cán bộ Hội từ tỉnh đến cơ sở đều được bồi dưỡng về kỹ năng, phương pháp làm việc; cơ bản đạt chuẩn về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị.
Chiếm 74% trên tổng số giáo viên toàn tỉnh, đội ngũ giáo viên nữ luôn năng động, sáng tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy, thi đua dạy tốt, học tốt, phấn đấu “Giỏi việc trường, đảm việc nhà” góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục của tỉnh nhà. Đóng góp tích cực vào sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân là đội ngũ cán bộ nữ ngành y tế, nhiều chị được Nhà nước phong tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua, thầy thuốc ưu tú. Phụ nữ còn là lực lượng tích cực tham gia phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; hành năm, cung cấp trên 100 tin có giá trị, tố giác tội phạm, tệ nạn xã hội, tham gia quản lý giáo dục người thân trong gia đình không phạm tội và mắc tệ nạn xã hội; tích cực vận động con em lên đường thi hành nghĩa vụ quân sự ở địa phương góp phần thực hiện tốt công tác quốc phòng, an ninh.
Tuy nhiên, sự tác động bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường, định kiến giới, sự gia tăng của các loại tội phạm, tệ nạn xã hội... vẫn đang là những rào cản, thách thức lớn mà các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh đang phải đối mặt. Đời sống của một bộ phận nhân dân, trong đó có phụ nữ, nhất là vùng sâu, phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ khuyết tật còn nhiều khó khăn; đạo đức gia đình có dấu hiệu xuống cấp; trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ, năng suất lao động nữ còn thấp dẫn đến khả năng cạnh tranh, cơ hội tiếp cận việc làm còn nhiều khó khăn. Phụ nữ tỉnh nhà đang còn chịu nhiều áp lực bởi khuôn mẫu, vai trò giới truyền thống, phụ nữ được trông đợi như một nhân lực chính để duy trì gia đình và chăm sóc con cái hơn là tham gia các hoạt động xã hội. Chính những điều này đã phần nào hạn chế sự tham gia của phụ nữ trên các lĩnh vực và tham gia vào các vị trí quản lý, lãnh đạo.
Trong thời gian tới, vấn đề bình đẳng giới và nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ tiếp tục là mối quan tâm của toàn xã hội và cần có nhóm giải giáp cụ thể.
Nhóm giải pháp về chủ trương, đường lối, chính sách: Khuôn khổ pháp lý hiện hành của nước ta về vấn đề giới, bình đẳng giới, cần xây dựng một hệ thống hoàn thiện các chủ trương, đường lối, chính sách để bảo đảm bình đẳng giới, chú trọng đến các chủ trương, chính sách về tạo nguồn nữ cán bộ; quan tâm đến việc sắp xếp, bố trí công việc phù hợp, tạo môi trường thuận lợi để cán bộ nữ thể hiện hết năng lực, sở trường.
Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức của gia đình, xã hội và hệ thống chính trị đối với công tác cán bộ nữ: Phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao trình độ nhận thức của người dân trong việc nhìn nhận vai trò, vị thế người phụ nữ. Đặc biệt là phải làm sao cho nhận thức đó chuyển hóa thành hành vi, thái độ ứng xử bình đẳng với phụ nữ. Các cấp Hội cần phải đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền để mọi người nhận thấy rằng, vị thế thấp kém của phụ nữ so với nam giới không phải là “điều kiện tự nhiên” mà là kết quả của sự phân biệt đối xử với phụ nữ theo một hệ thống. Tăng cường các hoạt động tập huấn để các tài liệu tuyên truyền, giáo dục pháp luật về giới và bình đẳng giới đến được với tất cả phụ nữ và cộng đồng, quan tâm đến đối tượng phụ nữ nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số. Tiếp tục thực hiện Đề án 939 về “Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp” do Thủ tướng Chính phủ ban hành; cần có thêm nhiều hơn nữa chương trình, dự án lồng ghép hỗ trợ phụ nữ với phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, tạo điều kiện để phát huy vai trò, vị thế của phụ nữ.
Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức, năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị: Để công tác cán bộ nữ đạt được mục tiêu như Nghị quyết số 11/NQ-TW của Bộ Chính trị đòi hỏi chính chị em phải nỗ lực rất lớn. Bác Hồ từng nói: “Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”.
Với vai trò Hội LHPN tỉnh, các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn kỹ năng sẽ được Hội tập trung hỗ trợ, tạo điều kiện để phụ nữ phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật. Các cấp Hội đẩy mạnh Phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và hai cuộc vận động “Rèn luyện phẩm chất phụ nữ thời kỳ mới: Tự tin – Tự trọng – Trung hậu – Đảmg đang”, “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Khích lệ, động viên chị em phát huy tiềm năng, ý chí tự lực, tinh thần khởi nghiệp, chủ động tham gia giải quyết những vấn đề của chính mình, của gia đình cũng như toàn xã hội; tạo các diễn đàn, đối thoại để chị em trực tiếp tham gia hiệu quả vào việc xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền thông qua giám sát, phản biện xã hội gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII).
Mang Phượng-BTG Hội LHPN tỉnh Tây Ninh

16/10/2017 5:00 CH/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpgĐề án 3431No
Hội LHPN thành phố Tây Ninh: Tổ chức hội thi Hát về phụ nữ Việt NamNewHội LHPN thành phố Tây Ninh: Tổ chức hội thi Hát về phụ nữ Việt Nam
Nhân kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam (20.10.1930- 2017), Hội LHPN thành phố Tây Ninh tổ chức Hội thi “Hát về phụ nữ Việt Nam”.

Tổ chức hội thi Hát về phụ nữ Việt Nam

Trao giải cho các thí sinh.

Có 11 thí sinh đại diện cho Hội LHPN của 10 phường, xã và đơn vị Công an thành phố Tây Ninh tham gia tranh tài ở các tiết mục đơn ca, với chủ đề ca ngợi phẩm chất cao quý của phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh cũng như hết lòng hy sinh vì gia đình.

Đây còn là dịp để các hội viên phụ nữ giao lưu với nhau, làm phong phú đời sống tinh thần cho phụ nữ.

Kết quả, giải nhất hội thi thuộc về thí sinh Huỳnh Thị Mai Phương (Hội LHPN phường 3), giải nhì thí sinh Đinh Thu Trang (Hội LHPN Công an thành phố Tây Ninh).

Theo Báo Tây Ninh Online

14/10/2017 12:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/hat ve_Key_18102017111318.jpgĐề án 3433Báo Tây Ninh OnlineNo
Nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo an ninh, trật tự của lực lượng Công an xãNewNâng cao hiệu quả công tác đảm bảo an ninh, trật tự của lực lượng Công an xã
Mới đây, tại hội trường Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức hội nghị tổng kết Đề án “Nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo an ninh, trật tự của lực lượng Công an xã giai đoạn 2013- 2016” (gọi tắt là Đề án).

Nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo an ninh, trật tự của lực lượng Công an xã

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Ngọc tặng bằng khen cho các tập thể.

Từ khi UBND tỉnh ban hành Đề án, cấp ủy, chính quyền các cấp đã tăng cường chỉ đạo, củng cố việc nâng cao chất lượng công tác của lực lượng Công an xã.

Qua đó, đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, như rà soát bổ sung nguồn nhân lực cho Công an xã; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trụ sở làm việc, nơi tiếp công dân, nơi ăn, nghỉ; trang bị phương tiện, trang thiết bị làm việc, trang phục, công cụ hỗ trợ; ban hành các quyết định về chế độ, chính sách đối với lực lượng Công an xã.

Lực lượng Công an xã được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ, pháp luật, chính trị, đáp ứng tốt yêu cầu công tác. Qua 3 năm thực hiện Đề án, lực lượng Công an xã đã có sự chuyển biến, khắc phục được một số tồn tại, yếu kém trước đây, nâng cao hiệu quả công tác giữ gìn an ninh trật tự ở địa phương.

Tại hội nghị, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Nguyễn Thanh Ngọc đánh giá cao vai trò của lực lượng Công an xã đối với công tác bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở, chia sẻ những khó khăn lực lượng Công an xã đang phải đối mặt.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh, trước tiến trình đô thị hóa như hiện nay, hoạt động của tội phạm sẽ ngày càng phức tạp, đó là những khó khăn mà lực lượng Công an nói chung và Công an xã nói riêng sẽ phải đối mặt. Vì thế, các cấp ủy, chính quyền cần tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng Công an xã, góp phần đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương.

Dịp này, UBND tỉnh tặng bằng khen cho 10 tập thể, 14 cá nhân; Giám đốc Công an tỉnh tặng giấy khen cho 19 tập thể và 19 cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Đề án.

Theo Báo Tây Ninh Online

14/10/2017 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/tong ket_Key_17102017101341.JPGPhong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc13Báo Tây Ninh OnlineNo
CATN: Tổng kết 10 năm thi hành Luật Công nghệ thông tinNewCATN: Tổng kết 10 năm thi hành Luật Công nghệ thông tin
Mới đây, Công an Tây Ninh tổ chức hội nghị tổng kết 10 năm thi hành Luật Công nghệ thông tin; sơ kết 2 năm thực hiện nghị quyết của Đảng ủy Công an Trung ương và chương trình hành động của Bộ Công an về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ công tác công an”.

CATN: Tổng kết 10 năm thi hành Luật Công nghệ thông tin

Đại tá Nguyễn Tri Phương- Giám đốc CATN trao giấy khen cho các tập thể, cá nhân xuất sắc.

Đến dự có thiếu tướng Hoàng Văn Lai- Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, Bộ Công an; lãnh đạo Sở Thông tin và truyền thông Tây Ninh, Ban Giám đốc Công an tỉnh, các đơn vị nghiệp vụ, Công an các huyện, thành phố.

Từ năm 2006, Công an Tây Ninh đã nghiên cứu, xây dựng và đưa vào khai thác sử dụng phần mềm quản lý nhân khẩu, hộ khẩu; tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu xây dựng thêm phần mềm quản lý tin báo tội phạm và điều tra án, phần mềm quản lý đối tượng tù tha, đặc xá và phần mềm xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an ninh trật tự, quản lý người nghiện ma túy.

Đến năm 2008, Công an tỉnh triển khai thực hiện trong toàn lực lượng; đồng thời tiếp tục đầu tư, xây dựng, hoàn thiện các phần mềm phục vụ công tác, hiện nay đã đưa vào khai thác, sử dụng 10 phần mềm trên các mặt công tác.

Nhìn chung, sau 10 năm thi hành Luật Công nghệ thông tin và thực hiện nghị quyết của Đảng ủy Công an Trung ương, chương trình hành động của Bộ Công an, công tác ứng dụng, sử dụng công nghệ thông tin trong Công an tỉnh đã có nhiều thay đổi, mang lại hiệu quả cao cho công tác và ngày càng phát triển hiện đại hơn, phù hợp tình hình thực tế.

Để phát huy những kết quả đạt được, đại tá Nguyễn Tri Phương- Giám đốc Công an tỉnh yêu cầu trong thời gian tới, Công an tỉnh phải xây dựng phần mềm họp trực tuyến từ tỉnh đến các huyện, thành phố; tận dụng và phát huy tốt đa các phần mềm vào công tác Công an; thực hiện đúng theo quy định của ngành, tránh bị lộ, lọt bí mật.

Dịp này, Ban Giám đốc Công an tỉnh đã tặng giấy khen cho 14 tập thể và 45 cá nhân có thành tích trong hoạt động xây dựng và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác.

Theo Báo Tây Ninh Online

14/10/2017 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/CATN(1)_Key_17102017102544.JPGỨng dụng công nghệ thông tin, An toàn thông tin17Báo Tây Ninh OnlineNo
Gò Dầu: Quần chúng tham gia bắt trộmNewGò Dầu: Quần chúng tham gia bắt trộm
Nghe tiếng người hàng xóm tri hô có trộm, các anh Trung, Nghĩa, Duyên đã lao ra, cùng nhau đuổi theo để bắt tên trộm xe.

Quần chúng tham gia bắt trộm

Đối tượng Trần Văn Bạn (trái) cùng tang vật bị người dân bắt được.

Khoảng 13 giờ ngày 10.10.2017, anh Nguyễn Công Thuận (sinh năm 1985, ngụ ấp Xóm Mới 1, xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu) dựng xe môtô Wave Alpha, biển số 70F1- 403.88 phía trước nhà nhưng không khóa cổ, không người trông coi, rồi vào nhà nằm nghỉ. Khoảng 10 phút sau, anh Thuận nghe tiếng nổ xe máy của mình nên chạy ra và phát hiện xe đã bị lấy trộm.

Anh Thuận chạy bộ đuổi theo được khoảng 20 mét đã nắm được đuôi xe, đối tượng và xe ngã xuống đường, tên trộm ngoan cố chống cự quyết liệt và tiếp tục chạy bộ về hướng khu phố Thanh Bình A nhằm tẩu thoát.

Nghe tiếng tri hô, các anh Nguyễn Thành Trung, Đặng Hoàng Nghĩa và Nguyễn Ngọc Duyên (cùng ngụ ấp Xóm Mới 1) chạy ra, cùng nhau truy đuổi, khống chế đối tượng và giao Công an xã Thanh Phước giải quyết.

Tại trụ sở Công an xã Thanh Phước, đối tượng khai tên Trần Văn Bạn, sinh năm 1986, ngụ ấp Bình Hòa, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng. Bạn khai nhận, do không có tiền tiêu xài nên đi trộm cắp xe để bán lấy tiền.

Theo Báo Tây Ninh Online

14/10/2017 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/go dau_Key_17102017103111.JPGPhong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc13Báo Tây Ninh OnlineNo
Chính sách đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền NamChính sách đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam
Chính phủ ban hành Nghị định số 112/2017/NĐ-CP quy định về chế độ, chính sách đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965 - 1975.

Ảnh minh họa

Nghị định này quy định chế độ trợ cấp một lần; trợ cấp hằng tháng; trợ cấp mai táng và chính sách vay vốn sản xuất, kinh doanh đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến trong thời gian từ ngày 26/3/1965 đến ngày 30/4/1975 ở các tỉnh từ Quảng Trị đến Cà Mau.

Điều kiện hưởng chính sách

Theo Nghị định, người được hưởng chế độ, chính sách trên phải đảm bảo các điều kiện:

1. Được huy động tham gia kháng chiến theo Nghị quyết Đại hội Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng miền Nam lần thứ nhất ngày 26/3/1965.

2. Tham gia tổ chức thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam do Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng miền Nam hoặc chính quyền cách mạng cấp khu, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã thành lập dưới các hình thức tổ chức như: Đại đội, trung đội, phân đội, tiểu đội, đội hoặc lấy tên đơn vị thanh niên xung phong gắn với địa danh, cấp hành chính.

3. Độ tuổi tham gia thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam từ 16 đến 30 tuổi. Trường hợp đặc biệt dưới 16 tuổi, có sức khỏe tốt, tình nguyện gia nhập thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam và được các đơn vị thanh niên xung phong cơ sở chấp thuận nhưng không dưới 14 tuổi.

4. Có thời gian hoạt động tại cơ sở (xã, ấp, liên xã, liên huyện) từ ngày 26/3/1965 đến ngày 30/4/1975.

5. Phương thức hoạt động không tập trung.

6. Thực hiện một trong các nhiệm vụ sau: Làm giao liên dẫn đường, diệt ác ôn và chống tề; làm công tác địch vận, tổ chức hoạt động liên lạc với những người của cách mạng hoạt động trong tổ chức của địch; bảo vệ và chăm, nuôi cán bộ cách mạng; trực tiếp tải thương, tiếp đạn phục vụ lực lượng vũ trang chính quy, và lực lượng vũ trang địa phương; trực tiếp vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc men, tài liệu từ vùng địch chiếm đóng ra căn cứ và ngược lại; lập ấp, xã chiến đấu, tham gia xây dựng chiến hào, làm đường phục vụ kháng chiến; phá hủy cơ sở hạ tầng, phương tiện, thiết bị phục vụ chiến tranh của địch; tham gia phục vụ chiến đấu hoặc tham gia phục vụ các chiến trường khi có yêu cầu của cấp trên; tham gia thực hiện một số nhiệm vụ khác do tổ chức cách mạng phân công.

Mức trợ cấp một lần

Nghị định quy định thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam có đủ điều kiện trên được hưởng chế độ trợ cấp một lần, tính theo số năm thực tế tham gia thanh niên xung phong cơ sở. Trường hợp có thời gian tham gia thanh niên xung phong cơ sở ở các đợt khác nhau hoặc gián đoạn thì được cộng dồn để tính hưởng chế độ.

Cụ thể, từ đủ 2 năm trở xuống, mức trợ cấp một lần bằng 2.500.000 đồng; trên 2 năm thì từ năm thứ 3 trở đi cứ mỗi năm được cộng thêm 800.000 đồng.

Khi tính thời gian thực hiện chế độ trợ cấp một lần, nếu có tháng lẻ thì từ đủ 6 tháng trở lên được tính tròn một năm, dưới 6 tháng được tính nửa (1/2) năm.

Trường hợp thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam có giấy tờ gốc hoặc giấy tờ liên quan quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định này nhưng không thể hiện cụ thể thời gian tham gia kháng chiến thì được hưởng mức 2.500.000 đồng.

Trường hợp thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam đã từ trần trước ngày 20/11/2017 (ngày Nghị định này có hiệu lực) thì thân nhân của người từ trần được hưởng chế độ trợ cấp một lần bằng 3.600.000 đồng.

Trợ cấp hằng tháng 540.000 đồng

Nghị định quy định thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam không còn khả năng lao động và sống cô đơn, không nơi nương tựa thì được xét trợ cấp hằng tháng mức 540.000 đồng. Mức trợ cấp này sẽ được điều chỉnh tương ứng khi Chính phủ điều chỉnh mức trợ cấp hằng tháng đối với thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến quy định tại Quyết định số 40/2011/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Ngoài ra, thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam còn được vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội để sản xuất, kinh doanh cải thiện đời sống.

Theo chinhphu.vn

13/10/2017 12:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/203444_thanh_nien_xung_phong_Key_13102017111215.jpgPhổ biến, Hướng dẫn18Chinhphu.vnNo
Tiêu chí Đồn biên phòng vùng sâu, vùng xaTiêu chí Đồn biên phòng vùng sâu, vùng xa
Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định về Đồn biên phòng thuộc vùng sâu, vùng xa.

Theo quy định, Đồn biên phòng thuộc vùng sâu, vùng xa là những Đồn biên phòng có một trong các tiêu chí sau:

1- Đóng quân và quản lý các xã miền núi, xã đảo, vùng biển có địa hình tự nhiên phức tạp, hiểm trở, chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, xa trung tâm hành chính cấp huyện.

2- Đóng quân và quản lý các xã miền núi, hải đảo có phụ cấp khu vực từ 0,2 trở lên và phụ cấp đặc biệt từ 30% trở lên theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3- Đóng quân và quản lý các xã, phường thuộc địa bàn trọng yếu về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Chính phủ yêu cầu việc xác định Đồn biên phòng thuộc vùng sâu, vùng xa phải phù hợp với yêu cầu của chương trình cải cách tư pháp; đáp ứng các tiêu chí xác định Đồn biên phòng thuộc vùng sâu, vùng xa theo quy định trên.

Hàng năm, căn cứ tình hình phát triển kinh tế, xã hội của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biên giới; yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của Bộ đội Biên phòng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định bổ sung hoặc đưa ra khỏi Danh mục Đồn Biên phòng thuộc vùng sâu, vùng xa.

Theo chinhphu.vn


13/10/2017 12:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpgPhổ biến, Hướng dẫn16Chinhphu.vnNo
UBND tỉnh ban hành Quy định xác định Chỉ số cải cách hành chính đối với các sở, ban, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Tây NinhUBND tỉnh ban hành Quy định xác định Chỉ số cải cách hành chính đối với các sở, ban, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
Để phản ánh kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính hàng năm tại các sở, ban, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, ngày 09/10/2017, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2340/QĐ-UBND về việc quy Quy định xác định Chỉ số cải cách hành chính đối với các sở, ban ngành và UBND các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

​Việc đánh giá kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính (gọi tắt là Chỉ số cải cách hành chính) của các cơ quan, đơn vị được UBND tỉnh Tây Ninh thực hiện từ năm 2012, hàng năm được UBND tỉnh điều chỉnh bổ sung để phù hợp quy định pháp luật, định hướng, mục tiêu và trọng tâm của công tác cải cách hành chính, phù hợp thực tiễn, đáp ứng mục tiêu định lượng được khối lượng công việc của các cơ quan, đơn vị trong thực hiện các nội dung cải cách hành chính.

Chỉ số Cải cách hành chính là hệ thống các tiêu chí, tiêu chí thành phần để đo lường kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính của các cơ quan hành chính các cấp; theo quy định, trong năm 2017 quy định xác định chỉ số cải cách hành chính có những sửa đổi, bổ sung các nội dung cơ bản như sau:

1. Quyết định ban hành để thay thế quy định xác định chỉ số cải cách hành chính đối với các sở, ban ngành cấp tỉnh và UBND cấp huyện tại Quyết định số 3136/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định đánh giá kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính của các sở, ban, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Đối với chỉ số cải cách hành chính của UBND cấp xã, giao Chủ tịch UBND huyện, thành phố căn cứ Quyết định số 3136/QĐ-UBND và thực tiễn để quy định cụ thể cho địa phương mình.

2. Thời gian Chủ tịch UBND tỉnh quyết định công bố chỉ số cải cách hành của các cơ quan, đơn vị chậm nhất là ngày 31 tháng 12 hàng năm. Đồng thời, quy định Giám đốc Sở Nội vụ trình Chủ tịch UBND tỉnh trước ngày 15 tháng 12 hàng năm.

Quy định thời gian này để Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị làm cơ sở gắn kết quả chỉ số cải cách hành hành chính hàng năm với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức theo thẩm quyền.

3. Cơ cấu lại một số điểm số cho các tiêu chí, tiêu chính thành phần theo đề nghị của các cơ quan có liên quan và thực tiễn tại 02 phụ lục kèm theo phù đặc thù riêng cho các cơ quan (như: Văn phòng UBND tỉnh, Văn phòng HĐND tỉnh, Thanh tra tỉnh).

4. Quy định xếp mức độ hoàn thành nhiệm vụ cải cách hành chính theo 4 nhóm, cụ thể:

- Nhóm thực hiện Tốt công tác cải cách hành chính là các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ điểm số cải cách hành chính từ 90% đến 100%. Trong đó tiêu chí thành phần 1.1.2 (mức độ hoàn thành kế hoạch cải cách hành chính) phải có tỷ lệ điểm từ 90% trở lên.

- Nhóm thực hiện Khá công tác cải cách hành chính là các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ điểm số cải cách hành chính từ 80% đến dưới 90%. Trong đó tiêu chí thành phần 1.1.2 (mức độ hoàn thành kế hoạch cải cách hành chính) phải có tỷ lệ điểm từ 85% trở lên.

- Nhóm thực hiện Trung bình công tác cải cách hành chính là các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ điểm số cải cách hành chính từ 70% đến dưới 80%. Trong đó tiêu chí thành phần 1.1.2 (mức độ hoàn thành kế hoạch cải cách hành chính) phải có tỷ lệ điểm từ 70% trở lên.

- Nhóm thực hiện Kém công tác cải cách hành chính là các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ điểm số cải cách hành chính dưới 70%.

5. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị theo chức năng, thẩm quyền, thực hiện cụ thể tiêu chí đánh giá đối với cán bộ, công chức, viên chức gắn với xác định trách nhiệm cá nhân trong thực hiện công tác cải cách hành chính của cơ quan, đơn vị theo các tiêu chí, tiêu chí thành phần của Quy định này.

6. Hàng năm, căn cứ kết quả chỉ số cải cách hành chính hàng năm do Chủ tịch UBND tỉnh ban hành, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị quyết định việc biểu dương, khen thưởng và đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức theo thẩm quyền.

Trong trường hợp khi cơ quan, đơn vị thực hiện đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức theo thẩm quyền mà Chủ tịch UBND tỉnh chưa ban hành Quyết định công bố chỉ số cải cách hành chính của các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố thì Thủ trưởng cơ quan, đơn vị căn cứ kết quả thẩm định chỉ số cải cách hành chính do Giám đốc Sở Nội vụ phê duyệt trình Chủ tịch UBND tỉnh làm cơ sở đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức theo thẩm quyền.

7. Thường trực Hội đồng thi đua khen thưởng tỉnh: Rà soát, bổ sung quy chế, quy định về thi đua khen thưởng đối với các cơ  quan, đơn vị và cá nhân gắn với với kết quả Chỉ số cải cách hành chính theo quy định này; Căn cứ kết quả Chỉ số cải cách hành chính của các cơ quan, đơn vị, để tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh xem xét thi đua, khen thưởng đối với cá nhân, tập thể các cơ quan, đơn vị.

Quy định mới ban hành quy định xác định chỉ số cải cách hành chính của năm 2017 được kỳ vọng để nâng cao hơn nữa trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan, đơn vị  trong thực hiện cải cách hành chính tại các cơ quan, đơn vị và là cơ sở thực hiện quy định về đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiện nay.

HV2017

13/10/2017 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpgCải cách hành chính40No
Người phụ nữ 2 giỏiNgười phụ nữ 2 giỏi
Những năm gần đây, nhiều gia đình nghèo ở địa phương đều biết và nể phục tinh thần xông xáo, nhiệt tình trong công việc của chị Nguyễn Thị Dung, 39 tuổi- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Cầu Khởi (huyện Dương Minh Châu).

Người phụ nữ 2 giỏi

Chị Dung (bìa phải) trao vốn cho một hội viên khó khăn khởi nghiệp.

Năm 2005, chị Dung từ Trạm Truyền thanh xã được điều chuyển sang làm Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Cầu Khởi. Chị kể: “Khi mới nhận nhiệm vụ, mọi thứ đều lạ lẫm đối với tôi. Nhưng khó nhất là công tác tuyên truyền, vận động các hội viên”. Ðể làm tốt công việc ấy, chị đã bỏ công học hỏi kinh nghiệm ở những người đi trước, đồng thời nghiên cứu các kỹ năng tuyên truyền trên ti vi, sách, báo. Chị cũng thường xuyên bám sát hoạt động ở cơ sở để nắm rõ hoàn cảnh của các hội viên. Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, chị đã nắm bắt được công việc. Sau đó, chị được các hội viên phụ nữ địa phương tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội. Năm 2016, chị vận động các mạnh thường quân trao tặng 39 suất học bổng Trần Thị Sanh dành cho các em học sinh nữ hiếu học với tổng trị giá 17,7 triệu đồng; tặng 44 thẻ bảo hiểm y tế cho các hộ cận nghèo, hộ khó khăn với số tiền gần 8 triệu đồng; tặng 25 phần quà cho các gia đình hội viên khó khăn, tổng cộng 5,5 triệu đồng… Ngoài ra, chị còn thành lập một bếp ăn từ thiện, bếp ăn này đã thực hiện 600 suất cơm chay miễn phí, mỗi suất trị giá 10.000 đồng phục vụ người nghèo, người già neo đơn trong xã.

Sang năm 2017, chị Dung tiếp tục huy động các nguồn lực xã hội để trao học bổng Trần Thị Sanh, tặng thẻ bảo hiểm y tế, tặng quà cho người nghèo, hỗ trợ vốn cho hội viên khó khăn khởi nghiệp vv… Chị còn phát động, triển khai thực hiện các mô hình thiết thực như: Tổ Phụ nữ tôn giáo thực hiện phương châm sống “Tốt đời đẹp đạo”, Tổ Phụ nữ tự quản về vệ sinh môi trường, mô hình hỗ trợ lúa giống (đã hỗ trợ được 800kg lúa giống, trị giá 12 triệu đồng giúp 8 gia đình hội viên nghèo).

Dù bận rộn với công việc của Hội, nhưng chị Dung vẫn không quên trách nhiệm vừa làm cha, vừa làm mẹ trong gia đình. Chồng qua đời cách đây 2 năm vì bệnh tật, chị một mình làm lụng nuôi con. Mức lương 3,8 triệu đồng/tháng không đủ lo cuộc sống của 2 mẹ con, chị phải đi cạo mủ cao su để kiếm thêm thu nhập. Hết việc nhà lại đến việc xã hội, nên gần như chị không còn thời gian để nghỉ ngơi, phải có nghị lực cao mới làm được ngần ấy công việc. Chị cho biết: “Ước mơ lớn nhất của tôi là làm sao giúp được nhiều hơn nữa cho các chị em nghèo. Sắp tới đây, chúng tôi sẽ tiếp tục thành lập một quán cơm từ thiện và sẽ nấu 50 suất cơm chay/ngày để phục vụ người nghèo miễn phí vào ngày 15 và 29 âm lịch. Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ hỗ trợ cho 10 hộ gia đình, mỗi hộ 100 kg lúa giống”.

Theo Báo Tây Ninh Online

13/10/2017 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/IMG20170723163907_Key_13102017105623.jpgĐề án 34317Báo Tây Ninh OnlineNo
Tây Ninh: sau 04 năm triển khai ứng dụng chữ ký sốTây Ninh: sau 04 năm triển khai ứng dụng chữ ký số
Thời gian qua UBND tỉnh đã quan tâm chỉ đạo phát triển hạ tầng, triển khai các hệ thống thông tin dùng chung, đồng bộ đến các cơ quan nhà nước của tỉnh và với mục tiêu nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đảm bảo an toàn cho các giao dịch điện tử, nâng cao hiệu quả hoạt động chỉ đạo điều hành, tiết kiệm thời gian, chi phí cho các cơ quan nhà nước.

Trong đó, tỉnh đã triển khai ứng dụng chữ ký số trong hoạt động quản lý. Đến nay, trong toàn tỉnh đã cấp phát bàn giao 942 thiết bị ký số (token) cho 240 đơn vị (bao gồm các sở, ban ngành tỉnh; đơn vị trực thuộc các sở, ngành; UBND các huyện, thành phố và một số đơn vị cấp xã), 649 thiết bị ký số cho cá nhân là cán bộ, công chức thuộc các cơ quan nhà nước trong tỉnh và 53 thiết bị ký số cho dịch vụ phần mềm. Hiện tại, đã thu hồi 05 thiết bị của đơn vị do giải thể, sáp nhập và 67 thiết bị của cá nhân do nghỉ hưu, chuyển công tác.

Hệ thống chứng thư số và chứng thực chữ ký số chuyên dùng do Ban Cơ yếu Chính phủ cung cấp đã được vào các ứng dụng, phần mềm điều hành tác nghiệp và các hệ thống thông tin như phần mềm Văn phòng điện tử và phần mềm một cửa điện tử.

Kết quả của việc tích hợp chữ ký số vào phần mềm Văn phòng điện tử - eOffice tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng trong thao tác cho người sử dụng. Từ tháng 01/2017 đến nay, theo thống kê thì đã có 29.178 các loại văn bản được ký số trao đổi trong các cơ quan nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp huyện trên phần mềm này. Kết quả triển khai và sử dụng bước đầu đã có tác động rất tích cực trong việc rút ngắn thời gian chuyển, nhận văn bản, giảm thiểu chi phí trong phát hành văn bản giấy, đơn giản hóa thủ tục hành chính, góp phần hiện đại hóa nền hành chính công, từng bước nâng cao trình độ ứng dụng CNTT của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, đồng thời hỗ trợ hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo và nâng cao hiệu quả trong quá trình cải cách thủ tục hành chính. Giảm văn bản giấy tờ, việc gửi nhận văn bản nhanh chóng, thuận lợi, đảm bảo gửi nhận an toàn và xác thực góp phần tăng cường công tác an toàn thông tin. Ký số trên văn bản điện tử giúp cho lãnh đạo cơ quan có thể giải quyết công việc ở mọi lúc, mọi nơi không phải buộc ở tại cơ quan giúp tăng cường năng lực điều hành.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Chưa có quy định về việc lưu trữ văn bản điện tử có sử dụng chữ ký số nên gây khó khăn cho ban hành danh mục gửi/nhận văn bản điện tử có sử dụng chữ ký số không văn bản giấy toàn tỉnh; Quy trình cấp phát, thu hồi chứng thư số bị hạn chế về mặt thời gian do công tác thay đổi, luân chuyển cán bộ lãnh đạo là thường xuyên.

Vì vậy, để củng cố, phát triển nhằm thúc đẩy ứng dụng chứng thư số và dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng do Ban Cơ yếu Chính phủ cung cấp trong thời gian tới cần có những giải pháp sau:

Một là tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của chữ ký số; phổ biến các văn bản hướng dẫn, quy định, quy trình ứng dụng và triển khai chữ ký số cho các đơn vị trong hệ thống chính trị.

Hai là tích cực hỗ trợ, hướng dẫn các đơn vị chưa ứng dụng tốt chữ ký số. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình ứng dụng chữ ký số tại các đơn vị để thúc đẩy việc ứng dụng chữ số, đây là một trong những tiêu chí đánh giá ứng dụng CNTT và chấm điểm cải cách hành chính của tỉnh.

Ba là phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ tiếp tục triển khai tích hợp chữ ký số cho các dịch vụ ứng dụng dùng chung tại Trung tâm Tích hợp dữ liệu.

Kiều Oanh

13/10/2017 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpgỨng dụng công nghệ thông tin33No
Phối hợp thực hiện giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minhPhối hợp thực hiện giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh
UBND tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh vừa xây dựng Chương trình phối hợp thực hiện Nghị quyết Liên tịch số 88/NQLT/CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 7/10/2016 giữa Chính phủ và Đoàn Chủ tịch UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về phối hợp thực hiện giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Việc thực hiện Chương trình nhằm góp phần nâng cao nhận thức, tăng cường trách nhiệm của các cấp, các ngành, tạo sự phối hợp đồng bộ, thống nhất, hiệu quả giữa Ủy ban nhân dân tỉnh, các ngành, các cấp chính quyền địa phương với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Thông qua thực hiện Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh" để vận động toàn dân hưởng ứng Phong trào " Tây Ninh chung sức xây dựng nông thôn mới", Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"; góp phần thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án, chính sách của Nhà nước có liên quan trực tiếp đến giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Chương trình phối hợp thực hiện giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh giai đoạn 2017 – 2020 tập trung vào một số nhiệm vụ: Vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; Vận động nguồn lực hỗ trợ giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; Xây dựng và nhân rộng các mô hình tiên tiến về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; Giám sát giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh ; Phản biện xã hội về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; Tổ chức kiểm tra việc thực hiện giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh…

Theo đó, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong tỉnh chủ trì vận động nguồn lực xã hội thông qua các hình thức sau: Vận động các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp ủng hộ Quỹ "Vì người nghèo" và các quỹ an sinh xã hội; Vận động các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo vươn lên. Vận động hộ gia đình và nhân dân góp công, góp của phù hợp với điều kiện thực tế để tạo nguồn lực giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Cùng với đó, vận động nhân dân xây dựng các mô hình. Cụ thể, đối với hộ gia đình nghèo là đoàn viên, hội viên của tổ chức nào thì tổ chức đó có trách nhiệm giúp đỡ, đối với hộ gia đình là hộ nghèo không phải là đoàn viên, hội viên MTTQ có trách nhiệm giúp đỡ giúp đỡ, không để hộ nghèo nào mà không có các tổ chức giúp đỡ. Hộ gia đình vượt khó vươn lên thoát nghèo; khu dân cư, xã, phường, thị trấn giảm nghèo bền vững; Xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã nông thôn kiểu mẫu; Phường, thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh.

 Bên cạnh đó, tổ chức giám sát và chỉ đạo, hướng dẫn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới giám sát.

Giám sát việc thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước về giảm nghèo bền vững trọng tâm giám sát việc thực hiện các chính sách được quy định tại Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020, trong đó tập trung như giám sát việc thực hiện quy trình xác định đối tượng hỗ trợ: Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo; địa bàn nghèo (huyện nghèo, xã nghèo, ấp đặc biệt khó khăn) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

 Giám sát việc thực hiện chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với đối tượng được hỗ trợ theo quy định. trọng tâm giám sát việc thực hiện các chính sách được quy định tại Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16 tháng 8 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020, trong đó tập trung Giám sát việc bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn thực phẩm; Giám sát việc phân bổ và sử dụng nguồn vốn của Nhà nước, việc huy động sức dân xây dựng nông thôn mới, nợ đọng xây dựng nông thôn mới; Giám sát quá trình bình xét, công nhận xã, huyện đạt chuẩn nông thôn mới, xã nông thôn kiểu mẫu; việc công nhận gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa, xã văn hóa đạt chuẩn nông thôn mới.

Ngoài ra, thực hiện giám sát việc lập quy hoạch và thực hiện xây dựng theo quy hoạch, chỉnh trang đô thị; thực hiện các tiêu chí xây dựng phường, thị trấn, thị xã, thành phố thuộc cấp tỉnh đạt chuẩn đô thị văn minh; giám sát công nhận gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa, phường, thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh;  Giám sát việc thực hiện các chính sách của Nhà nước trong việc xây dựng, chỉnh trang đô thị văn minh; thực hiện chính sách hỗ trợ xây dựng nhà ở đối với người có công, hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội cho người nghèo, hộ thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp, sinh viên. Giám sát việc thực hiện chính sách của Nhà nước về xây dựng nông thôn mới gắn với quá trình đô thị hóa.

Về nội dung phản biện xã hội về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, UBND tỉnh khi xây dựng dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh có liên quan trực tiếp đến đời sống Nhân dân có trách nhiệm phối hợp và bảo đảm các điều kiện để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh thực hiện phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản này.

Khi nhận được văn bản đề nghị góp ý của UBND tỉnh về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, tùy theo nội dung, phạm vi, đối tượng điều chỉnh trong dự thảo văn bản mà Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh tổ chức hình thức phản biện xã hội phù hợp để nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản.

 Đối tượng, phạm vi, hình thức, trình tự, thủ tục giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh theo quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các văn bản pháp luật có liên quan.

Tổ chức kiểm tra việc thực hiện giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, khi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức kiểm tra việc phối hợp giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, UBND tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo các sở, ngành tỉnh, UBND các huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn phối hợp, bảo đảm các điều kiện thực hiện.  Khi được UBND tỉnh, hoặc các sở, ngành tỉnh mời tham gia kiểm tra việc thực hiện giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh thì Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm phối hợp tham gia.

Theo đó, để tổ chức thực hiện chương trình phối hợp, Uỷ ban nhân dân tỉnh giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  xây dựng và phát hành tài liệu tuyên truyền, vận động nhân dân; hỗ trợ xây dựng và nhân rộng các mô hình, tăng cường vận động nguồn lực hỗ trợ về giảm nghèo bền vững; kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách của Nhà nước về giảm nghèo; Hướng dẫn Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp vận động nhân dân, xây dựng và nhân rộng các mô hình giảm nghèo, tăng cường vận động nguồn lực hỗ trợ giảm nghèo bền vững.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hỗ trợ và tạo điều kiện để Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh xây dựng và nhân rộng các mô hình hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, khu dân cư nông thôn, xã có cách làm hiệu quả, đóng góp tích cực xây dựng nông thôn mới; Phối hợp với các sở, ban, ngành phụ trách tiêu chí nông thôn mới, có liên quan hướng dẫn Ủy ban nhân dân các cấp, nhất là cấp xã tự đánh giá, xét công nhận, nâng cao tiêu chí nông thôn mới; Chủ trì phối hợp với các sở, ban, ngành phụ trách tiêu chí nông thôn mới có liên quan đánh giá việc công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

 Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các sở, ngành liên quan xây dựng, triển khai và theo dõi việc thực hiện tiêu chí phường, thị trấn, thành phố trực thuộc tỉnh đạt chuẩn đô thị văn minh; Hướng dẫn Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn phối hợp và hỗ trợ các điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng và nhân rộng các mô hình hộ gia đình, khu dân cư, phường, thị trấn có cách làm hiệu quả xây dựng đô thị văn minh; Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành tỉnh tham mưu Ủy ban nhân dân  tỉnh ban hành cơ chế chính sách phát triển nhà ở; hỗ trợ xây dựng nhà ở đối với người có công; hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội cho các hộ nghèo, hộ thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp, sinh viên; Chủ trì xây dựng và hướng dẫn các địa phương xây dựng nông thôn mới trong quá trình đô thị hóa.

 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh chỉ đạo nâng cao chất lượng Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" ở ấp, khu phố lồng ghép với Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh". Hướng dẫn điều chỉnh tiêu chí, thủ tục bình xét để nâng cao chất lượng công nhận danh hiệu "Gia đình văn hóa", khu dân cư, xã văn hóa, phường, thị trấn văn minh phù hợp với tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; Phối hợp với Sở Xây dựng triển khai thực hiện tiêu chí phường, thị trấn,thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh đạt chuẩn đô thị văn minh.

 Sở Y tế phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các sở, ngành liên quan: Triển khai thực hiện Chương trình phối hợp số 2812/KHPH/UBND-UBMTTQVN ngày 4 tháng 10 năm 2016 của Uỷ ban Nhân dân và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh về vận động và giám sát bảo đảm an toàn thực phẩm giai đoạn 2016 - 2020. Gắn các chương trình, phong trào vận động Nhân dân tham gia: Bảo hiểm y tế, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống tác hại thuốc lá, phòng chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường với thực hiện Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh"; Hướng dẫn Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai thực hiện Chương trình phối hợp số 2812/KHPH/UBND-UBMTTQVN.

Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức vận động toàn dân tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội trong tỉnh tổ chức giám sát và phản biện xã hội về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; Hướng dẫn Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn  phối hợp và hỗ trợ các điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức phổ biến pháp luật, vận động Nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật; xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật gắn với việc công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, phường, thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh; Hướng dẫn Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn   phối hợp và hỗ trợ các điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc vận động nhân dân tham gia thực hiện quy ước và hương ước ở cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật.

Công an Tây Ninh chủ trì, phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn vận động Nhân dân đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn, an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh.

Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh hướng dẫn thành lập và tổ chức hoạt động của Ban giám sát đầu tư cộng đồng theo Luật đầu tư công; Phối hợp với Sở Tài chính, các sở, ngành liên quan cân đối nguồn lực bố trí kinh phí đảm bảo để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức thực hiện các nội dung trong Chương trình phối hợp này.

Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh bố trí, hướng dẫn kinh phí tổ chức thực hiện Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh" và các nhiệm vụ tại Chương trình phối hợp này trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn.

Các sở, ngành, cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ chức năng, nhiệm vụ được phân công, phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh hướng dẫn Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn  phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp triển khai các nội dung có liên quan đến giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chỉ đạo rà soát thống kê, phân loại đối tượng nghèo; xây dựng cơ sở dữ liệu người nghèo, hộ nghèo đa chiều và công khai danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo tại khu dân cư và trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã. Lồng ghép các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, xác định nhiệm vụ trọng tâm, bố trí nguồn lực đảm bảo để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; Chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phối hợp và hỗ trợ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về tài liệu tuyên truyền, các tài liệu phục vụ công tác vận động, giám sát giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; phối hợp tổ chức tập huấn bồi dưỡng cho cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia công tác giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; Chỉ đạo các phòng, ban, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn  phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc tổ chức các diễn đàn, tọa đàm, đối thoại theo chủ đề để Nhân dân trao đổi, góp ý kiến việc triển khai thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh trên địa bàn; Chủ trì đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo, mục tiêu xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh đáp ứng các yêu cầu của mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; khen thưởng các xã, phường, thị trấn, ấp, khu phố, tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; Chỉ đạo các phòng, ban, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phối hợp và đảm bảo các điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp tổ chức giám sát, phản biện xã hội về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh trên địa bàn.

MN

13/10/2017 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpgXây dựng nông thôn mới21MNNo
Miễn, giảm cước gửi hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính qua bưu điệnMiễn, giảm cước gửi hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính qua bưu điện
Bộ Thông tin và Truyền thông vừa ban hành Thông tư 22/2017/TT-BTTTT quy định mức giá cước tối đa và chính sách miễn, giảm giá cước dịch vụ nhận gửi hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính và dịch vụ chuyển trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

​Theo đó, đối tượng được miễn giá cước dịch vụ nhận gửi hồ sơ, chuyển trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945; Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Đối tượng được giảm 50% giá cước dịch vụ nhận gửi hồ sơ, chuyển trả kết quả gồm: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; thương binh và người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; vợ hoặc chồng, con đẻ, mẹ đẻ, bố đẻ của liệt sĩ; người dân thuộc hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; người dân ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

Thái Thành

13/10/2017 10:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpgCải cách hành chính41Thái ThànhNo
Triển khai văn bản pháp luật năm 2017Triển khai văn bản pháp luật năm 2017
Thực hiện Kế hoạch của UBND tỉnh Tây Ninh về triển khai công tác phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh, Sở Tư pháp tổ chức hội nghị triển khai pháp luật lần 3 năm 2017.

Đối tượng triển khai gồm cán bộ, công chức Cục Hải quan, Cục Thuế, báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cán bộ pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và doanh nghiệp nhà nước, lãnh đạo UBND các huyện, thành phố phụ trách công tác xử phạt vi phạm hành chính…

Triển khai văn bản pháp luật năm 2017

Ông Nguyễn Văn Huấn- Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh trình bày một số điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT.

Tại hội nghị, ông Lý Hoàng Vũ- Phó Giám đốc Sở Tư pháp cho biết, các văn bản triển khai trong hội nghị là những văn bản rất quan trọng, cần thiết, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức vào cuộc sống của người dân.

Các đại biểu đã được phổ biến những quy định mới trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế, Nghị định số 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt và Nghị định số 97/2017/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế có nhiều điểm mới nổi bật, như bắt buộc tham gia BHYT theo 5 nhóm đối tượng; khuyến khích tham gia BHYT theo hộ gia đình; tăng quyền lợi và mức hưởng BHYT; mở rộng thông tuyến khám chữa bệnh bằng BHYT; quản lý và sử dụng quỹ BHYT; bổ sung trách nhiệm của các bên liên quan.

Nghị định số 46/2016/NĐ-CP có sự điều chỉnh về bố cục, nội dung, sửa đổi và bổ sung các quy định xử phạt đối với các hành vi và nhóm hành vi vi phạm, chế tài xử phạt, thủ tục xử phạt, thẩm quyền xử phạt của một số chức danh đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt.

Nghị định số 97/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung thêm các quy định về tiêu chí xác định đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính là tổ chức; về thẩm quyền xử phạt của trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành; thẩm quyền xử phạt trong trường hợp tang vật vi phạm hành chính là hàng cấm; thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện đối với tổ chức vi phạm hành chính của một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; thời hạn thực hiện sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính…

Theo Báo Tây Ninh Online

12/10/2017 4:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/trien khai_Key_12102017153613.JPGPhổ biến, Hướng dẫn14Báo Tây Ninh OnlineNo
Đổi mới triển khai chương trình MTQG nông thôn mớiĐổi mới triển khai chương trình MTQG nông thôn mới
Tính đến tháng 9/2017, UBND tỉnh đã công nhận và công bố 6 xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2016, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh lên 22 xã, chiếm 27,5% số xã toàn tỉnh.

tramcapnuocsach.jpg

Trạm cấp nước sạch xã Suối Dây, huyện Tân Châu. (Ảnh Lê Bi)

Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Nông thôn,  nhìn chung Chương trình MTQG nông thôn mới luôn được cấp ủy, Ban Chỉ đạo, UBND cấp huyện quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc; các kế hoạch thực hiện Chương trình giai đoạn 2016 - 2020 và năm 2017 đã được xây dựng và triển khai; bộ máy chỉ đạo, giúp việc các cấp từng bước được rà soát, kiện toàn; việc nâng cao kiến thức, năng lực quản lý điều hành, thực thi của cán bộ xây dựng nông thôn mới các cấp. Ban Chỉ đạo, UBND cấp huyện đều tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện Chương trình MTQG nông thôn mới ngay từ đầu năm, nhất là ở 08 xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017 (gọi tắt 08 xã), công tác kiện toàn Ban Chỉ đạo, Văn phòng Điều phối xây dựng nông thôn mới cấp huyện cũng như việc phân công các phòng, ngành chuyên môn thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn cho các xã trong quá trình thực hiện được quan tâm, đến nay có 03 huyện: Bến Cầu, Trảng Bàng, Tân Châu đã thành lập Ban Chỉ đạo các Chương trình MTQG; các quy chế hoạt động, quy chế phối hợp được điều chỉnh, bổ sung; duy trì họp định kỳ Ban Chỉ đạo theo đúng quy chế; chỉ đạo 08 xã tổ chức điều tra, khảo sát thực trạng theo Quyết định số 1200/QĐ-UBND ngày 31/5/2017 của UBND tỉnh ban hành Quy định Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2016 - 2020 để định hướng các nhiệm vụ thực hiện trong thời gian tới. Ban Chỉ đạo cấp huyện đã đặt quyết tâm hoàn thành mục tiêu 08 xã đạt chuẩn nông thôn mới vào cuối năm 2017.

Công tác tuyên truyền, hướng dẫn được quan tâm triển khai; công tác phối hợp với MTTQVN, các đoàn thể thực hiện Chương trình tiếp tục được phát huy và đạt được một số kết quả thiết thực; nhận thức của hệ thống chính trị, nhân dân đã có những chuyển biến rõ rệt và từng bước được nâng lên. Ban Chỉ đạo, UBND cấp huyện đã ban hành kế hoạch tuyên truyền, kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua chung sức xây dựng nông thôn mới, giao chỉ tiêu nông thôn mới cho các xã thực hiện; tiếp tục triển khai các hoạt động tuyên truyền nông thôn mới với nhiều hình thức, lồng ghép với công tác tuyên truyền của các hội, đoàn thể các cấp; riêng huyện Hòa Thành tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phong trào "Phát huy vai trò tôn giáo, vận động chức sắc, chức việc và tín đồ tham gia xây dựng nông thôn mới". Kết quả, đến tháng 8/2017, đã tuyên truyền qua hệ thống truyền thanh huyện, xã 26 chuyên mục, 42 bài viết, 417 bản tin với thời lượng 856 giờ phát thanh; tuyên truyền qua các hội nghị, tiếp xúc cử tri cho cán bộ, nhân dân 860 cuộc, 27.704 lượt người tham dự.

Công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, nhất là đối với các xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017; các hạn chế, thiếu sót qua kiểm tra được kịp thời phát hiện, hướng dẫn hoặc đề xuất xử lý. UBND cấp huyện đã rà soát, đánh giá thực trạng 80 xã theo Quyết định số 1200/QĐ-UBND. Đến tháng 8/2017, có 08/22 xã đã đạt chuẩn duy trì, giữ vững 19 tiêu chí; đạt từ 15-18 tiêu chí có 13 xã; đạt từ 10-14 tiêu chí có 37 xã; đạt từ 05-09 tiêu chí có 22 xã. Bình quân tiêu chí nông thôn mới đạt được trên toàn tỉnh (80 xã) 12,06 tiêu chí/xã (giảm 0,49 tiêu chí so với cuối năm 2016).

Đối với 8 xã: Bình quân đạt 13,8 tiêu chí/xã; 01 xã đạt 17 tiêu chí (Gia Lộc), 02 xã đạt 16 tiêu chí (Thái Bình, Tân Hưng), 02 xã đạt 14 tiêu chí (Long Chữ, Thanh Phước), 01 xã đạt 12 tiêu chí (Cầu Khởi), 02 xã đạt 11 tiêu chí (Mỏ Công, Trường Tây). Các tiêu chí chưa đạt của 08 xã chủ yếu tập trung ở nhóm tiêu chí Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội (Giao thông, thủy lợi, trường học và cơ sở vật chất văn hóa) và nhóm Phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân nông thôn (tiêu chí Y tế).

Có thể nói, nhờ những nỗ lực trên của cấp ủy, Ban Chỉ đạo, UBND cấp huyện mà diện mạo nông thôn ngày càng khởi sắc; kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa,… được quan tâm đầu tư, từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất, phục vụ dân sinh. Công tác phát triển sản xuất được quan tâm thực hiện. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ngày càng được củng cố; cảnh quan, môi trường nông thôn dần được cải thiện.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Chương trình MTQG nông thôn mới vẫn còn tồn tại hạn chế. Việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới còn chậm. Bình quân tiêu chí/xã của tỉnh cũng như số tiêu chí đạt được của các xã giảm so với cuối năm 2016 (kể cả ở các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới) do áp dụng Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2016-2020 mới ban hành, trong đó bổ sung thêm 10 chỉ tiêu so với Bộ tiêu chí cũ (áp dụng giai đoạn 2009-2015); mặt khác một số tiêu chí (hộ nghèo, tổ chức sản xuất, y tế, môi trường) quy định nội dung, mức đạt chuẩn cao hơn giai đoạn trước đây. Việc huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới còn chậm và gặp nhiều khó khăn. Vốn ngân sách nhà nước tuy vượt mức quy định nhưng còn thấp so với nhu cầu thực tế; nguồn vốn huy động trong dân rất hạn chế do thu nhập của người nông dân còn thấp; vốn huy động từ các doanh nghiệp không nhiều. Kết quả vận động vốn doanh nghiệp, nhân dân còn thấp so với tổng vốn, cụ thể: 9 tháng đầu năm các địa phương đã huy động doanh nghiệp 16,2 tỷ đồng (chiếm 1,8%), nhân dân 10,9 tỷ đồng (chiếm 1,2%) so với tổng vốn, qua đó cho thấy công tác tuyên truyền, vận động ở một số nơi (nhất là các xã không phải xã điểm) còn nhiều khó khăn, hạn chế.

 Kinh tế hợp tác ở nông thôn có phát triển nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Sản xuất nông nghiệp còn khó khăn, hàng nông sản khó tiêu thụ. Việc áp dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất chưa nhiều. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn tuy được cải thiện nhưng vẫn còn ở mức thấp.  Việc thực hiện mô hình liên kết theo chuỗi giá trị gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, mới bắt đầu từng bước triển khai thực hiện nên còn nhiều lúng túng. Người dân còn bỡ ngỡ và chưa quen với phương pháp liên kết theo chuỗi giá trị gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm; hoạt động của HTX còn nhiều hạn chế do mới thành lập; công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn gặp khó khăn do đa phần lao động làm việc tại các khu công nghiệp. Công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp hoặc giữa một số ngành ở từng cấp còn chậm, chưa kịp thời….

Nhằm giữ vững 22 xã đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2016. Phấn đấu có thêm 08 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới lên 30 xã, chiếm 37,5% số xã của tỉnh. Số tiêu chí đạt được bình quân/xã 14,6 tiêu chí. Các xã còn lại tăng thêm từ 1-3 tiêu chí so với năm 2016, thời gian tới, các cấp, các ngành, các huyện, thành phố trong tỉnh đổi mới triển khai chương trình; tăng cường sự tham gia của người dân; thực hiện tốt phương châm "dân cần, dân biết, dân bàn, dân góp, dân làm, dân kiểm tra quản lý và hưởng thụ". Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức người dân bằng nhiều hình thức phù hợp, nhất là tính chủ động của cán bộ, công chức, người dân trong tham gia xây dựng nông thôn mới; huy động tối đa nguồn lực của xã hội trong xây dựng nông thôn mới, tránh phụ thuộc nhiều vào ngân sách, đảm bảo cơ cấu vốn. Hoàn thành công tác rà soát, đánh giá lại hiện trạng 19 tiêu chí nông thôn mới theo Bộ tiêu chí mới; điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, đề án Xây dựng xã nông thôn mới phù hợp quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện và khả năng bố trí, huy động nguồn lực của địa phương. Tập trung chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu sản xuất trên địa bàn từng xã gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Thực hiện tốt các chính sách, đề án phục vụ cơ cấu lại nông nghiệp. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn phù hợp quy hoạch XDNTM, quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn và yêu cầu cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Chú trọng phát triển các công trình hạ tầng thiết yếu cấp xã gắn với phát triển sản xuất, đời sống hàng ngày của người dân. Triển khai nhiều giải pháp nâng cao tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế, giảm nghèo, tăng thu nhập tại địa phương; thường xuyên tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường, xử lý rác thải sinh hoạt, tạo cảnh quan xanh - sạch - đẹp của xã nông thôn mới và các xã khác trên địa bàn huyện, thành phố. Ban hành các chính sách về huy động nguồn lực, tăng cường phân cấp cho cấp xã, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân và cộng đồng thực hiện. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chương trình. Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện và thi công đối với các dự án, nhiệm vụ đã được phân khai và giao vốn; các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới đến cuối năm 2017 tiếp tục duy trì, giữ vững tiêu chí theo Bộ tiêu chí mới. Chỉ đạo, hỗ trợ 08 xã khẩn trương hoàn thành các tiêu chí, chỉ tiêu chưa đạt, chuẩn bị hồ sơ, thủ tục xác nhận đạt từng tiêu chí theo hướng dẫn của các Sở, Ngành tỉnh; thống nhất với các Sở, Ngành tỉnh phụ trách tiêu chí nông thôn mới về số liệu, kết quả thực hiện trước khi Đoàn thẩm định xã đạt chuẩn nông thôn mới của tỉnh tiến hành công tác thẩm định.

MN

12/10/2017 3:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/tramcapnuocsach_Key_12102017141451.jpgXây dựng nông thôn mới19MNNo
Tây Ninh: phấn đấu 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017Tây Ninh: phấn đấu 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017
Theo kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 tỉnh Tây Ninh, mục tiêu đến cuối năm 2017 là duy trì, phấn đấu 22 xã đã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng cao chất lượng 19 tiêu chí; phấn đấu 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới, gồm Mỏ Công (huyện Tân Biên), Tân Hưng (Tân Châu), Cầu Khởi (Dương Minh Châu), Thái Bình (Châu Thành), Trường Tây (Hoà Thành), Thanh Phước (Gò Dầu), Long Chữ (Bến Cầu) và Gia Lộc (Trảng Bàng).

DSC_8930.JPG

Thi công đường tại xã Tân Hưng. Ảnh Chí Thành.

Tính đến tháng 8/2017, có 08/22 xã đã đạt chuẩn duy trì, giữ vững 19 tiêu chí; đạt từ 15-18 tiêu chí có 13 xã; đạt từ 10-14 tiêu chí có 37 xã; đạt từ 05-09 tiêu chí có 22 xã. Bình quân tiêu chí nông thôn mới đạt được trên toàn tỉnh (80 xã) 12,06 tiêu chí/xã (giảm 0,49 tiêu chí so với cuối năm 2016). Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Nông thôn, các tiêu chí chưa đạt của 8 xã chủ yếu tập trung ở nhóm tiêu chí phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội (giao thông, thủy lợi, trường học và cơ sở vật chất văn hóa) và phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân nông thôn (tiêu chí y tế).

Tình hình đầu tư tại 8 xã, đến tháng 8/2017,  đã phân khai 170.651 triệu đồng (gồm vốn XSKT: 128.651 triệu đồng, vốn Trung ương hỗ trợ: 42.000 triệu đồng) cho 236 dự án; trong đó: 04/08 xã: Tân Hưng (huyện Tân Châu), Mỏ Công (huyện Tân Biên), Thái Bình (huyện Châu Thành), Thanh Phước (huyện Gò Dầu) đã được phân khai vốn tất cả các dự án thực hiện năm 2017; 04/08 xã còn lại có 67 dự án thực hiện năm 2017 chưa được phân khai vốn (176.357 triệu đồng). Trong đó, xã Trường Tây (huyện Hòa Thành): 72.922 triệu đồng với 14 dự án (trong đó: Giao thông 04 dự án với 4.302 triệu đồng; trường học 07 dự án với 65.963 triệu đồng; nhà văn hóa ấp 03 dự án với 2.657 triệu đồng). Xã Cầu Khởi (huyện Dương Minh Châu): 68.638 triệu đồng với 47 dự án (trong đó: Giao thông 38 dự án với 24.680 triệu đồng; trường học 04 dự án, 38.230 triệu đồng; cơ sở vật chất văn hóa 05 dự án, 5.728 triệu đồng). Xã Long Chữ (huyện Bến Cầu): 31.195 triệu đồng với 03 dự án (trường học). Xã Gia Lộc (huyện Trảng Bàng): 3.602 triệu đồng với 03 dự án (giao thông).

Về việc thực hiện một số tiêu chí tại 8 xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Tiêu chí 11 - Hộ nghèo (quy định ≤1%), chỉ tiêu 15.1 - Tỷ lệ người dân tham gia BHYT (quy định ≥85%), chỉ tiêu 15.3 - Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi (quy định ≤14,3%), chỉ tiêu 18.6 - Đảm bảo bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình (quy định mỗi xã có ít nhất 01 cán bộ chủ chốt là nữ; 01 mô hình địa chỉ tin cậy, nhà tạm lánh cho các nạn nhân bị bạo lực giới và bạo lực gia đình đạt chuẩn) là những tiêu chí, chỉ tiêu khó đạt, cần có thời gian, lộ trình thực hiện, gây lúng túng khi triển khai ở các xã; chỉ tiêu 14.3 - Tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo theo hướng dẫn tại Công văn số 4999/LĐTBXH-KHTC ngày 12/12/2016 của Bộ Lao động Thương binh xã hội chưa phù hợp với tình hình thực tế (vì chỉ tính số lượng người đang có việc làm ngay trên địa bàn xã trong khi đa số người dân của xã làm việc ở những khu công nghiệp lân cận hoặc nhưng nơi khác ngoài địa bàn của xã), ảnh hưởng đến tỷ lệ đạt được của chỉ tiêu.

Tiêu chí thu nhập (quy định đạt chuẩn năm 2017 là 44 triệu đồng/người/năm) là tiêu chí khó đạt ở tất cả các xã so với mặt bằng chung về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nông thôn của tỉnh.

Tỷ lệ người dân tham gia BHYT còn thấp, dịch vụ BHYT chưa tạo được niềm tin cho người dân tự nguyện tham gia BHYT; việc xả rác bừa bãi, đổ rác chưa đúng nơi quy định còn xảy ra ở nhiều nơi (kể cả các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới).

Theo dự báo, khả năng đạt chuẩn nông thôn mới vào cuối năm 2017, có 02 xã có khả năng đạt cao: Gia Lộc, Thanh Phước. 03 xã được tập trung giải quyết tốt những vướng mắc về đầu tư, vốn đầu tư sẽ đạt chuẩn: Thái Bình, Long Chữ, Mỏ Công. 03 xã có khả năng đạt thấp: Tân Hưng, Cầu Khởi, Trường Tây do còn nhiều dự án chưa có vốn thực hiện, tỷ lệ người dân tham gia BHYT còn thấp so với quy định, cụ thể: Xã Tân Hưng: Tỷ lệ người dân tham gia BHYT 66,6%. Xã Cầu Khởi: Còn 47 dự án (tổng mức đầu tư 68,6 tỷ đồng) chưa có vốn thực hiện (38 dự án giao thông, 04 dự án trường học, 05 dự án cơ sở vật chất văn hóa). Xã Trường Tây còn 07 dự án trường học chưa có vốn; đường ngõ, xóm có 151 tuyến tuy nhiên chỉ cứng hóa 11,61/65,35 km (đạt 17,77%); số hộ nghèo 144 hộ, chiếm tỷ lệ 2,3%, để đạt tiêu chí đến cuối năm 2017 phải có 82 hộ thoát nghèo; tỷ lệ người dân tham gia BHYT 66,6%.

Để đạt mục tiêu trên, Ban Chỉ đạo  các huyện, thành phố Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới kiến nghị tỉnh tiếp tục phân bổ kinh phí thực hiện các công trình trong danh mục xây dựng nông thôn mới của 08 xã. Xem xét một số tiêu chí, chỉ tiêu cần có lộ trình thực hiện từng năm, cụ thể như: Tiêu chí 11 - Hộ nghèo, chỉ tiêu 15.1 - Tỷ lệ người dân tham gia BHYT, chỉ tiêu 15.3 - Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi - chiều cao theo tuổi. Đề nghị bỏ điều kiện xe Honda phải trên 10 triệu đồng, tivi trên 05 triệu đồng trong Phiếu điều tra kết quả thực hiện TC11 để xã thuận lợi hơn trong việc triển khai thực hiện tiêu chí. Có giải pháp trỗ trợ mua thẻ BHYT cho các hộ dân tộc Chăm, dân tộc Khrmer đóng trên địa bàn các xã dự kiến đạt chuẩn nông thôn mới.

Tỉnh cho chủ trương thu hồi đất cao su Tây Ninh để thực hiện các dự án xây dựng nông thôn mới và chủ trương cho khai thác đất đôi dư kênh TO. Hỗ trợ kinh phí cho cấp huyện: Thực hiện điều chỉnh Đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới; kinh phí hoạt động Ban chỉ đạo xã, Ban Phát triển ấp; kinh phí điều tra thu nhập hàng năm. Hỗ trợ, hướng dẫn xã Tân Hưng thành lập hợp tác xã để xã đạt Tiêu chí 13, vì hiện nay xã có 01 HTX Minh Phúc đã có đơn xin giải thể. Sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện, đánh giá tiêu chí, chỉ tiêu nông thôn mới theo Quyết định số 1200/QĐ-UBND và hướng dẫn thực hiện rà soát, điều chỉnh quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới; tài liệu tuyên truyền Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới.

MN

12/10/2017 3:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/DSC_8930_Key_12102017142043.JPGXây dựng nông thôn mới25MNNo
Kế hoạch bảo vệ môi trường năm 2018Kế hoạch bảo vệ môi trường năm 2018
Nhằm tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 05/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, công văn số 1411/BTNMT-KH ngày 27/3/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Quyết định số 1216/QĐ-UBND ngày 02/7/2013 của UBND tỉnh phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, UBND tỉnh ban hành kế hoạch bảo vệ môi trường năm 2018, trong đó tập trung vào những nhiệm vụ chính sau đây:

Hỗ trợ xử lý các điểm gây ô nhiễm môi trường bức xúc ở địa phương như hỗ trợ xử lý ô nhiễm các kênh, rạch thuộc lưu vực sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông và hồ Dầu Tiếng; Hỗ trợ xử lý ô nhiễm môi trường không khí do hoạt động công nghiệp, xây dựng, giao thông ở Khu công nghiệp, đô thị; Hỗ trợ xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại ở các đô thị, Khu công nghiệp; Hỗ trợ xử lý ô nhiễm môi trường các làng nghề, khắc phục một số điểm nóng về môi trường do tồn dư của thuốc bảo vệ thực vật; Hỗ trợ xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường thuộc kế hoạch xử lý hàng năm của UBND tỉnh.

Để phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường sẽ tiến hành xây dựng và ban hành danh mục đối với các ngành, lĩnh vực sản xuất tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; Kiểm soát việc sản xuất, nhập khẩu và sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học dùng trong nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; Kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu phế liệu, máy móc, thiết bị đã qua sử dụng gây nguy hại cho môi trường; Xây dựng báo cáo đánh giá môi trường chiến lược lồng ghép các nội dung bảo vệ môi trường vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; Tích cực tổ chức thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất 1.000 cơ sở, trong đó cấp tỉnh 200 cơ sở, cấp huyện 800 cơ sở; Tiếp tục kiểm tra, giám sát các cơ sở chưa xử lý nước thải đạt cột A, kiên quyết tạm đình chỉ các cơ sở xả nước thải chưa đạt tiêu chuẩn ra môi trường; Đồng thời, đẩy mạnh công tác thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc ký quỹ bảo vệ môi trường.

Thực hiện quản lý tổng hợp chất thải rắn; Hỗ trợ hoạt động phân loại, thu gom vận chuyển, xử lý giảm thiểu, tái chế, chôn lắp chất thải thông thường và chất thải nguy hại; vận hành hoạt động các bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh; hỗ trợ phương tiện thu gom vận chuyển chất thải; Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất theo cơ chế sản xuất sạch hơn nhằm mang lại hiệu quả cao về kinh tế và môi trường.

Tổ chức các hoạt động vệ sinh môi trường để hưởng ứng "Ngày Môi trường Thế giới", "Ngày quốc tế đa dạng sinh học" và "Chiến dịch làm cho Thế giới sạch hơn"; Tổ chức tuyên truyền, tập huấn về công tác bảo vệ môi trường đến các tầng lớp nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; Tiếp tục thực hiện đăng thông tin chuyên trang tuyên truyền về bảo vệ môi trường định kỳ hàng tháng; xây dựng các phóng sự, chuyên đề về Bảo vệ môi trường trên Đài Phát thanh và Truyền hình Việt Nam và Tây Ninh.

Thực hiện chế độ kiểm tra, giám sát đặc biệt đối với các dự án, các Khu công nghiệp, Khu chế xuất; các nhà máy chế biến cao su, mì, mía đường, dệt nhuộm, thuộc da; các bãi chôn lắp chất thải rắn, nhà máy xử lý chất thải rắn; Buộc các đối tượng có quy mô xả lớn lắp đặt ngay thiết bị kiểm soát, giám sát hoạt động xả thải theo quy định của pháp luật và truyền số liệu trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường.

Dự toán ngân sách chi sự nghiệp môi trường năm 2018 là: 64,8 tỷ đồng, trong đó ngân sách cấp tỉnh 43,1 tỷ đồng và ngân sách cấp huyện là: 21,7 tỷ đồng.

UBND tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường là đơn vị thường trực tham mưu chỉ đạo triển khai thực hiện Kế hoạch; Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành và UBND huyện/thành phố tổ chức thực hiện Kế hoạch; phối hợp với UBND các cấp kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện Kế hoạch; triển khai thực hiện các đề tài, dự án được giao đúng theo tiến độ.

Vũ Anh

12/10/2017 3:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpgBảo vệ môi trường23Vũ AnhNo
Tân Châu 9 tháng đầu năm tai nạn giao thông giảmTân Châu 9 tháng đầu năm tai nạn giao thông giảm
Nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn huyện, ngay từ đầu năm 2017 các cơ quan, ban, ngành đoàn thể huyện Tân Châu đã có kế hoạch tuyên truyền và đưa ra nhiều giải pháp tích cực để đảm bảo đến mức thấp nhất có thể tai nạn giao thông xảy ra trên địa bàn huyện.

DSC_2894.JPG

Công an giao thông Tân Châu tuyên truyền luật giao thông đường bộ tại công ty Tiến Thành xã Suối Ngô.

Qua đó, có nhiều hình thức tuyên truyền như: diễn đàn, hội thi tìm hiểu luật giao thông đường bộ; treo băng rôn, áp phích, phát tờ rơi; tuyên truyền thông qua hệ thống truyền thanh cơ sở, tuyên truyền trong các trường học, khu dân cư… Công tác tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm về trật tự an toàn giao thông cũng được tăng cường. Tính đến 15/9/2017 Công an huyện Tân Châu đã tổ chức tuần tra kiểm soát trên 5.000 ca, qua đó phát hiện và lập biên bản trên 3.700 trường hợp vi phạm. Tạm giữ trên 800 phương tiện các loại. Tuy nhiên, tai nạn giao thông vẫn xảy ra 18 vụ, làm chết 4 người, bị thương 21 người. So cùng kỳ giảm 2 vụ, giảm 3 người chết và giảm 3 người bị thương. Trong các nguyên nhân gây tai nạn thì nguyên nhân đi không đúng phần đường chiếm tỷ lệ cao nhất là 8 vụ. Tuyến đường xảy ra tai nạn giao thông nhiều nhất vẫn là tỉnh lộ 785 xảy ra 12 vụ. Về tai nạn giao thông đường thủy không xảy ra.  

Chí Thành

12/10/2017 3:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/DSC_2894_Key_12102017143904.JPGAn toàn giao thông25Chí ThànhNo
Tân Châu đầu tư trên 100 tỷ đồng xây dựng nông thôn mớiTân Châu đầu tư trên 100 tỷ đồng xây dựng nông thôn mới
Phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện tiếp tục được mọi tầng lớp nhân dân và cả hệ thống chính trị cùng tham gia thực hiện.

DSC_4790.JPG

Trường tiểu học Suối Dây B đang được thi công.

Tính đến tháng 9 năm 2017, huyện Tân Châu đã đầu tư trên 106 tỷ đồng để xây dựng nông thôn mới. Trong đó vốn ngân sách nhà nước trên 34 tỷ đồng, vốn tính dụng gần 70 tỷ đồng, vốn doanh nghiệp đóng góp quỹ chung tay xây dựng nông thôn mới trên 200 triệu đồng và vốn huy động cộng đồng trên 2,4 tỷ đồng. Qua đó đã thực hiện các công trình giao thông nông thôn như:  Làm mới 33 tuyến đường trên địa bàn 11 xã với tổng chiều dài trên 33km. Trong đó, láng nhựa trên 6 km, bê tông xi măng gần 3km, sỏi đỏ trên 20 km. Đối với các công trình xây dựng cơ sở vật chất như công trình trường mầm non Suối Ngô, trường tiểu học Suối Dây B, 5 nhà văn hóa ấp ở xã Tân Hưng…

Kết quả thực hiện các tiêu chí đến nay trên địa bàn huyện có xã Thạnh Đông đạt 19/19 tiêu chí và đã được công nhận xã nông thôn mới, xã Tân Hưng đạt 16/19 tiêu chí, tuy nhiên có 4 tiêu chí chưa được công nhận. Các xã Tân Đông, Tân Phú, Tân Hiệp, Suối Dây đạt 7 tiêu chí.  Xã Tân Hà, Suối Ngô, Tân Thành đạt 6 tiêu chí, các xã còn lại cũng đạt từ 5 tiêu chí.

Chí Thành

12/10/2017 2:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/DSC_4790_Key_12102017134551.JPGXây dựng nông thôn mới13No
Đơn giản hóa 71 thủ tục hành chính thuộc quản lý của Bộ Tài chínhĐơn giản hóa 71 thủ tục hành chính thuộc quản lý của Bộ Tài chính
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 104/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính.

 Đơn giản hóa 32 thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng khoán

Theo đó, nội dung đơn giản hóa liên quan đến 71 thủ tục hành chính trong 3 lĩnh vực: Chứng khoán (32 thủ tục); hải quan (2 thủ tục); thuế (37 thủ tục).

Trong đó, lĩnh vực chứng khoán, đơn giản hóa thủ tục cấp giấy phép, điều chỉnh giấy phép thành lập và hoạt động công ty đầu tư chứng khoán đại chúng do hợp nhất, do nhận sáp nhập. Cụ thể, bỏ bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn hiệu lực của thành viên dự kiến hội đồng quản trị, người đại diện theo pháp luật của công ty đầu tư chứng khoán đại chúng, cổ đông sáng lập; Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và người điều hành quỹ (đối với công dân Việt Nam) quy định tại Điều 78 Nghị định số 58/2012/NĐ-CP.

Thủ tục Đăng ký cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế cũng được đơn giản hóa. Theo đó, bỏ yêu cầu nộp sơ yếu lý lịch có xác nhận của cơ quan quản lý lao động có thẩm quyền hoặc UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú quy định tại Điều 12 và bỏ chỉ tiêu ngày tháng năm sinh, quê quán và bổ sung thêm thông tin về số định danh cá nhân tại mẫu đơn 6a, 6b ban hành kèm theo Thông tư số 117/2012/TT-BTC.

Hủy tem rượu hỏng không cần chấp thuận của cơ quan thuế

Cũng trong lĩnh vực thuế, Nghị quyết cho phép khi làm thủ tục đăng ký số lượng, loại tem rượu dự kiến sử dụng trong năm/Mua tem rượu (thực hiện tại cấp Cục, cấp Chi cục) không phải xuất trình giấy giới thiệu của doanh nghiệp; xuất trình giấy chứng minh nhân dân của người trực tiếp đến mua tem rượu còn trong thời hạn sử dụng theo quy định của pháp luật về giấy chứng minh nhân dân.

Bỏ quy định trước khi thanh hủy tem rượu hư hỏng (rách hỏng...), tổ chức, cá nhân phải có văn bản, kèm bảng kê chi tiết đăng ký hủy với cơ quan thuế và phải có công văn chấp thuận cho hủy của cơ quan Thuế...

Theo chinhphu.vn

11/10/2017 12:00 CHĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpgCải cách hành chính17Chinhphu.vnNo
Tây Ninh đẩy nhanh tiến độ thực hiện các mục tiêu chương trình CCHC giai đoạn 2016-2020NewTây Ninh đẩy nhanh tiến độ thực hiện các mục tiêu chương trình CCHC giai đoạn 2016-2020
Tổng số TTHC thực hiện tiếp nhận, trả kết quả giải quyết qua dịch vụ bưu chính công ích trên địa bàn tỉnh Tây Ninh sau khi cập nhật bổ sung thì có 1010/1662 TTHC đạt tỷ lệ 60,77%, trong đó cấp tỉnh: 844/1281 TTHC, cấp huyện: 117/266 TTHC và cấp xã: 49/115 TTHC.

Summit2017.JPG

Diễn tập phòng chống tấn công mạng.

Nhằm từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động đời sống xã hội giúp nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước; Cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp. Xây dựng lộ trình, giải pháp triển khai mô hình quản trị thông minh tại tỉnh Tây Ninh; Đáp ứng các yêu cầu về khung kiến trúc chính phủ điện tử, định hướng đưa Tây Ninh trở thành đô thị thông minh, giúp Tây Ninh bắt kịp với xu hướng công nghệ, hướng tới sự minh bạch và phục vụ người dân tốt hơn, tìm giải pháp để đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong thời gian tới, Sở Thông tin và Truyền thông (TTTT) tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh, phối hợp với Trung tâm nghiên cứu Quốc tế (SCIS) – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh - Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và Văn phòng Đại diện Viện Konrad Adenauer tại Việt Nam (KAS) tổ chức Tọa đàm “Từ Chính phủ điện tử đến quản trị thông minh”.

Với mục tiêu giúp lãnh đạo tỉnh có cơ sở đưa ra các quyết định đầu tư triển khai chính quyền điện tử kịp thời, chính xác; nâng cao hiệu quả, chất lượng các dịch vụ công trực tuyến của tỉnh, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước tại tỉnh Tây Ninh ngày càng phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng, Sở TTTT đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1123/QĐ-UBND ngày 22/5/2017 phê duyệt Kiến trúc chính quyền điện tử tỉnh Tây Ninh.  Sau khi Kiến trúc chính quyền điện tử tỉnh Tây Ninh được phê duyệt, Sở Thông tin và Truyền thông đã xây dựng kế hoạch triển khai chi tiết các hoạt động Chính quyền điện tử tỉnh Tây Ninh.  Vừa qua, Sở TTTT cũng phối hợp với các đơn vị triển khai phần mềm tổ chức giới thiệu các giải pháp cho ngành Y tế, Giáo dục và Du lịch để tiến tới xây dựng thành phố thông minh tỉnh Tây Ninh.

Cùng với đó, nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cải cách hành chính, tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong chỉ đạo điều hành tiến tới Chính phủ điện tử, hệ thống văn phòng điện tử đã được triển khai cho 100% cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh, 100% UBND cấp huyện và 100% UBND cấp xã. Đến nay, các văn bản điện tử được trao đổi và xử lý trên môi trường mạng được liên thông từ cấp tỉnh đến cấp huyện thực hiện nhanh chóng, đảm bảo thông tin chỉ đạo kịp thời, chính xác, nâng cao hiệu quả công tác quản lý văn bản và điều hành trong các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh, đạt tỉ lệ 84,7% văn bản liên thông trên hệ thống văn phòng điện tử. Hệ thống chứng thực chữ ký số chuyên dùng được triển khai cho 100% Sở, ban, ngành, 100% UBND cấp huyện và 100% UBND cấp xã và được thực hiện ký số trên 07 loại văn bản quy định (Công văn, Báo cáo, Kế hoạch, Thông báo, Giấy mời, Lịch công tác, Văn bản sao gửi) để luân chuyển văn bản điện tử trên môi trường mạng.

Nhằm tiết kiệm thời gian, kinh phí, giảm giấy tờ trong các cuộc họp, ngoài tính năng nhắn tin SMS được phát triển cho ứng dụng "Họp không giấy" tại tỉnh, năm 2016 nâng cấp ứng dụng với phiên bản dùng cho các điện thoại thông minh, đảm bảo thông báo thông tin cuộc họp nhanh chóng, kịp thời. Trong 9 tháng đầu năm 2017 (tính đến ngày 31/8/2017), có 2421 cuộc họp với tài liệu họp điện tử kèm theo được thông báo và cung cấp thông qua phần mềm "Họp không giấy".

Hệ thống một cửa điện tử đã được đưa vào sử dụng tại 72% Sở, ban, ngành, 100% UBND cấp huyện và 100% cấp xã để thực hiện tiếp nhận và quản lý tất cả các hồ sơ theo thủ tục hành chính thuộc tất cả các lĩnh vực trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, tỉnh đã triển khai liên thông hồ sơ điện tử qua Chi cục Thuế đối với các hồ sơ phải thực hiện nghĩa vụ tài chính cho 02 huyện Hòa Thành và Dương Minh Châu; Đối với mô hình này cá nhân và tổ chức có thể thực hiện kiểm tra, tra cứu tình trạng giải quyết hồ sơ bằng nhiều hình thức như hệ thống tin nhắn SMS, Kiosk tra cứu thông tin bằng mã vạch, màn hình cảm ứng.

Hệ thống dữ liệu thông tin kinh tế - xã hội tỉnh được đầu tư xây dựng, nhằm tạo kho dữ liệu chung cho toàn tỉnh, phục vụ công tác quản lý điều hành của lãnh đạo, đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin của các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước. Đến nay, hệ thống đã đưa vào vận hành, sử dụng cho các cơ quan quản lý hành chính cấp tỉnh và cấp huyện.

Hộp thư điện tử Tây Ninh được cung cấp cho 100% cán bộ công chức trong tỉnh. Tuy nhiên, do các hệ thống thông tin dùng chung trên địa bàn tỉnh (phần mềm họp không giấy và hệ thống văn phòng điện tử, hệ thống thông tin kinh tế xã hội,...) đã được triển khai và sử dụng đồng độ từ cấp tỉnh đến cấp huyện và tiến đến cấp xã nên hầu hết các văn bản điện tử đã được luân chuyển, trao đổi và xử lý trên các hệ thống thông tin dùng chung, vì vậy việc sử dụng thư điện tử Tây Ninh để trao đổi công việc không thường xuyên.

Ngoài ra, phần mềm quản lý Hộ tịch đã được triển khai tại Sở Tư pháp, 100% UBND cấp huyện và UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh, đồng thời liên thông tích hợp dữ liệu số hoá dân cư, hộ tịch với Công an tỉnh, đảm bảo dữ liệu được liên thông từ cấp tỉnh đến cấp huyện, cấp xã, hỗ trợ công tác quản lý, tra cứu, tổng hợp các thông tin công dân và các hoạt động liên quan đến hộ tịch trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo lợi ích người dân và doanh nghiệp, 100% cơ quan Nhà nước cấp tỉnh và 100% UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có cổng/trang thông tin điện tử, cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin chỉ đạo điều hành và thủ tục hành chính; Trong đó, cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 2, cung cấp 1.010 dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 3 và 143 dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 4.

Đặc biệt, việc đẩy mạnh thực hiện dịch vụ công trực tuyến và tiếp nhận, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính đạt một số kết quả đáng ghi nhận. Sau thời gian triển khai thực hiện Quyết định số 45/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ trong việc tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích, tổng số TTHC thực hiện tiếp nhận, trả kết quả giải quyết qua dịch vụ bưu chính công ích trên địa bàn tỉnh Tây Ninh sau khi cập nhật bổ sung thì có 1010/1662 TTHC đạt tỷ lệ 60,77%, trong đó cấp tỉnh: 844/1281 TTHC, cấp huyện: 117/266 TTHC và cấp xã: 49/115 TTHC.

Lan Anh

11/10/2017 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/Summit2017_Key_18102017101221.JPGCải cách hành chính5Lan AnhNo
Quyết liệt kéo giảm tai nạn giao thôngQuyết liệt kéo giảm tai nạn giao thông
Ông Phạm Văn Tân- Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban ATGT tỉnh yêu cầu trong thời gian tới, Ban ATGT và lực lượng chức năng các cấp triển khai công tác điều hành bảo đảm trật tự ATGT một cách thường xuyên, liên tục, hiệu quả và trên tinh thần vào cuộc quyết liệt.

Quyết liệt kéo giảm tai nạn giao thông

Ông Phạm Văn Cao- Phó Giám đốc Công an tỉnh phát biểu tại hội nghị.

Sáng 10.10, Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Văn Tân- Trưởng Ban An toàn giao thông tỉnh chủ trì hội nghị trực tuyến với các huyện, thành phố đánh giá công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông (ATGT) trong 9 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 3 tháng cuối năm.

9 tháng đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 126 vụ tai nạn giao thông (TNGT), làm chết 39 người, bị thương 114 người. So với cùng kỳ năm 2016, TNGT được kéo giảm trên cả 3 tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương. Nguyên nhân gây ra TNGT chủ yếu do người điều khiển phương tiện vi phạm các lỗi như: đi không đúng làn đường, phần đường; điều khiển phương tiện không chú ý quan sát, chuyển hướng không bảo đảm an toàn…

9 tháng qua, lực lượng CSGT đã kiểm tra, lập biên bản gần 27.000 trường hợp vi phạm, nộp ngân sách Nhà nước gần 28 tỷ đồng. Ðối với công tác kiểm soát tải trọng xe, lực lượng chức năng đã kiểm tra, lập biên bản hơn 400 trường hợp, nộp vào ngân sách Nhà nước hơn 1,8 tỷ đồng.

Mặc dù 3 tiêu chí đều giảm, tuy nhiên số giảm ít, tình hình trật tự ATGT vẫn còn diễn biến phức tạp. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh vẫn còn tồn tại một số điểm đen, điểm tiềm ẩn nguy cơ TNGT chưa được xử lý dứt điểm.

Tại hội nghị, các đơn vị, sở, ban, ngành, huyện, thành phố, đặc biệt là các địa phương có TNGT tăng cao như thành phố Tây Ninh, Dương Minh Châu, Trảng Bàng… đã báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ cũng như những khó khăn, tồn tại và đề xuất giải pháp bảo đảm trật tự ATGT trong các tháng cuối năm 2017.

Kết luận hội nghị, ông Phạm Văn Tân- Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban ATGT tỉnh yêu cầu trong thời gian tới, Ban ATGT và lực lượng chức năng các cấp triển khai công tác điều hành bảo đảm trật tự ATGT một cách thường xuyên, liên tục, hiệu quả và trên tinh thần vào cuộc quyết liệt.

Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, nhất là pháp luật về trật tự ATGT, để nâng cao ý thức tự giác, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của mọi người khi tham gia giao thông. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra, kiểm soát và xử lý nghiêm tất cả các vi phạm về TTATGT. Ngoài ra, cần làm tốt công tác tổ chức giao thông, để bảo đảm hạ tầng giao thông được thông suốt, di chuyển thuận lợi, hạn chế TNGT đáng tiếc xảy ra, đặc biệt là kiểm soát tải trọng xe, camera hành trình.

Theo Báo Tây Ninh Online

11/10/2017 10:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2017-10/giao-thong_Key_11102017090435.jpgAn toàn giao thông46Báo Tây Ninh OnlineYes
1 - 30Next
Thông tin quảng bá
  ​ ​ ​
​​​
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TÂY NINH
Số giấy phép: 281/GP-TTĐT, Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 30/8/2017 hiệu lực 10 (mười) năm.
Ban Biên tập website Tây Ninh, Email:toweb@tayninh.gov.vn.
Cơ quan quản lý: Sở Thông tin và Truyền thông Tây Ninh.
Địa chỉ: 006 đường Trần Quốc Toản, Phường 2, Thành phố Tây Ninh.
Điện thoại: 0276.3828888