Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông Tin Giới Thiệu

 
Thông Tin Giới Thiệu
 
Ngày 21/02/2017, đồng chí Dương Văn Thắng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì buổi họp với các sở, ngành liên quan cho ý kiến về Quy hoạch chung Khu du lịch Quốc gia Núi Bà Đen. 
 
Di tích lịch sử văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản văn hoá nhân loại. Trong kho tàng di sản văn hóa của các dân tộc ở Tây Ninh hội đủ các loại hình di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ học và danh lam thắng cảnh; đó là những tài sản vô cùng quý báu của tỉnh nhà. Đảng bộ chính quyền và nhân dân Tây Ninh luôn quan tâm gìn giữ, bảo vệ và phát huy những giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh để phục vụ nhân dân và khách tham quan du lịch đến với Tây Ninh. Đó cũng là trách nhiệm của mỗi chúng ta trong công tác giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ gắn với việc bảo tồn và phát huy các giá trị di tích trên địa bàn tỉnh. 
 
1. Khu Di tích lịch sử Văn hóa - Danh thắng và du lịch núi Bà Đen 
 
a. Lễ hội núi Bà Đen:  
 
Miếu Quan Đế do người Hoa được xây dựng tại khu phố 4, phường II, Thị xã Tây Ninh, người Việt thường gọi là chùa Ông. 
Đình Thanh Phước (20/01/2015)
 
Đình Thanh Phước được xây dựng trên một gò đất cao có nhiều cây dầu cổ thụ, nên đình còn có tên gọi khác là đình Gò Dầu. Toạ lạc tại Thị trấn Gò Dầu, đình Gò Dầu là một trong những ngôi đình cổ có quy mô lớn so với các ngôi đình khác trong tỉnh Tây Ninh. 
 
Đền thờ đức Trần Hưng Đạo tọa lạc tại khu phố 3, phường III Thị xã Tây Ninh . Nguồn gốc của ngôi đền xuất phát từ bộ phận người Việt Nam sinh sống ở huyện Mi-mốt, Kông-pông chàm, Campuchia. 
 
Năm 1749 (Kỷ Tỵ), Triều Đình Huế cử ba anh em nhà họ Huỳnh: Huỳnh Công Gỉan, Huỳnh Công Thắng, và Huỳnh Công Nghệ là các quan đại thần vào trấn nhậm vùng đất Tây Ninh. Ba ông cùng với đội binh mã của triều đình thực hiện việc di dân khai hoang lập ấp và giữ gìn an ninh ở vùng đất biên cương. 
Đình Long Giang (20/01/2015)
 
Đình Long Giang toạ lạc tại Ấp Bàu, xã Long Giang, huyện Bến Cầu. Cách trung tâm huyện lỵ khoảng chừng 10km về hướng Tây Nam. 
Đình Phước Hội (20/01/2015)
 
Đình Phước Hội được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, toạ lạc tại ấp Phước Hội, xã Suối Đá, huyện Minh Dương Châu, Tây Ninh. Thời kỳ xây dựng đình có tên xã là Phước Hội thuộc Tổng Hàm Ninh thượng. Sau năm 1975 xã Phước Hội đổi tên thành xã Suối Đá nên nhân dân quen gọi là đình Suối Đá. 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Ủy ban nhân dân tỉnh họp cho ý kiến về Quy hoạch chung Khu du lịch Quốc gia Núi Bà ĐenỦy ban nhân dân tỉnh họp cho ý kiến về Quy hoạch chung Khu du lịch Quốc gia Núi Bà Đen
Ngày 21/02/2017, đồng chí Dương Văn Thắng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì buổi họp với các sở, ngành liên quan cho ý kiến về Quy hoạch chung Khu du lịch Quốc gia Núi Bà Đen.

hop_nuibaden.JPG

Quang cảnh cuộc họp.

Khu Du lịch Quốc gia Núi Bà Đen được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 tại Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 29/12/2014. Theo đó, Khu Du lịch gồm 7 phân khu chức năng: Khu tâm linh lễ hội, khu trường bắn thể thao, khu công viên đô thị, khu tổ hợp du lịch Ma Thiên Lãnh, khu công viên vui chơi giải trí tổng hợp, khu làng du lịch cộng đồng Khedol và khu trường đua xe mô tô và ô tô địa hình.

Quy hoạch chung Khu du lịch Quốc gia Núi Bà Đen do Ban Quản lý Khu du lịch Quốc gia Núi Bà Đen là chủ đầu tư. Theo quy định, Quy hoạch chung này được Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh trình Bộ Xây dựng thẩm định, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Tại cuộc họp, các sở, ngành đã đóng góp nhiều ý kiến liên quan đến việc quy hoạch hạ tầng giao thông, sự phù hợp với các quy hoạch hiện có, kinh phí lập Quy hoạch,…

Phát biểu chỉ đạo kết luận cuộc họp, đồng chí Dương Văn Thắng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao Ban Quản lý Khu Du lịch quốc gia Núi Bà Đen chủ trì, phối hợp với đơn vị tư vấn, Sở Xây dựng và các sở, ngành liên quan tiếp thu có chọn lọc các ý kiến tại cuộc họp, hoàn chỉnh nhiệm vụ Quy hoạch sớm trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt để triển khai thực hiện xây dựng Quy hoạch.

                                                                                       KGVX

13/03/2017 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2017-03/hop_nuibaden_Key_13032017102356.JPG
Địa điểm thành lập cơ sở Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Tây Ninh tại Giồng NầnĐịa điểm thành lập cơ sở Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Tây Ninh tại Giồng Nần
Di tích lịch sử văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản văn hoá nhân loại. Trong kho tàng di sản văn hóa của các dân tộc ở Tây Ninh hội đủ các loại hình di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ học và danh lam thắng cảnh; đó là những tài sản vô cùng quý báu của tỉnh nhà. Đảng bộ chính quyền và nhân dân Tây Ninh luôn quan tâm gìn giữ, bảo vệ và phát huy những giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh để phục vụ nhân dân và khách tham quan du lịch đến với Tây Ninh. Đó cũng là trách nhiệm của mỗi chúng ta trong công tác giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ gắn với việc bảo tồn và phát huy các giá trị di tích trên địa bàn tỉnh.

GiongNan.jpg

Địa điểm thành lập cơ sở Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Tây Ninh tại Giồng Nần.

Di tích Địa điểm thành lập cơ sở Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Tây Ninh tại Giồng Nần thuộc ấp Long Đại, xã Long Vĩnh, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Nơi đây, xưa kia là khu rừng rậm với nhiều tầng cây đan xen và dây leo chằng chịt, nhiều người dân đến định cư sinh sống. Trong đó, ông Võ Văn Lợi một thanh niên yêu nước quê ở Bà Điểm, Hóc Môn, bị bắt đi lính tập ở Thành Ô – ma. Ông bỏ trốn lấy súng trong thành mang về Bà Điểm rồi trốn lên Giồng Nần (Châu Thành, Tây Ninh) làm ăn, tuyên truyền giác ngộ quần chúng yêu nước chống Pháp. Ông cùng với bốn người là Chẩn, Phú, Viết, Luông hợp thành một nhóm chia nhau đi vận động.

Năm 1930, ông trở lại Bà Điểm và được kết nạp Đảng tại Mỹ Huề, Bà Điểm (Hóc Môn). Sau đó được phân công trở lại Giồng Nần tiếp tục hoạt động. Ông bị bắt trong một lần đi tuyên truyền ở Phước Chỉ (Trảng Bàng, Tây Ninh), bị kết án chung thân và đày ra Côn Đảo.

Để tránh địch khủng bố, một số quần chúng tiến bộ phải chuyển sang biên giới Campuchia vào các làng người Việt để sinh sống. Tại đây, các đồng chí bắt được liên lạc với tổ chức Đảng ở Ba Ty do đồng chí Bùi Sanh Tạo làm bí thư thuộc sự chỉ đạo của Quận ủy Đức Hòa tỉnh Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An). Các đồng chí Chẩn, Phú, Viết, Luông, Bảy Son và Tám Độ được chi bộ ở đây kết nạp Đảng, sau đó trở về tiếp tục hoạt động ở các xã thuộc quận Châu Thành và len lỏi hoạt động ở vùng Giồng Nần, Long khánh, Long Giang, Long Chữ …

Tại Giồng Nần, các đồng chí vận động quần chúng nhân dân vào các hội vần công cấy gặt, các hội ái hữu tương tế, đồng thời chọn một số người tiến bộ để thành lập tổ chức Nông hội đỏ gồm có: Trần Thị Tỏ, Trương Thị Thìn, Nguyễn Văn Chua, Trương Thị Lệ, Trương Văn Tàu, Lê Văn Rùm, Trương Văn Võ, Lê Văn Bương, Trương Văn Du, Lê Văn Sáu, Phạm Văn Tồn và Huỳnh Văn Dần. Nhiệm vụ chủ yếu của Nông hội đỏ là lãnh đạo nông dân đòi dân sinh dân chủ, chống sưu cao thuế nặng, chống áp bức bóc lột.

Qua quá trình hoạt động, cơ sở Đảng tại Giồng Nần bị địch theo dõi ráo riết, trong một chuyến đi công tác xuống Bà Điểm, hai đồng chí Viết, Luông bị địch bắt rồi đưa đi mất tích. Tháng 5/1931, đồng chí Tám Độ bị bắt và kết án 15 năm đày ra Côn Đảo.

Năm 1934-1935 cơ sở Đảng ở Tây Ninh được xây dựng và củng cố thêm nhưng chưa hình thành chi bộ Đảng.

Hoạt động chủ yếu của các nhóm Đảng và các đảng viên trong giai đoạn này là tuyên truyền về sự khổ nhục của người dân mất nước, phải sống cảnh đời nô lệ, vạch trần sự áp bức bóc lột của bọn thống trị và bè lũ tay sai, kêu gọi quần chúng đứng lên đấu tranh để giải phóng mình, giành lại quyền sống tự do, giành lại cơm áo và ruộng đất.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Ở Tây Ninh những nhóm Đảng đầu tiên được hình thành là những hạt giống đỏ để lãnh đạo và phát triển phong trào giải phóng dân tộc ở Tây Ninh. Đảng bộ và nhân dân Tây Ninh đã kiên trì đấu tranh, vượt qua bao gian khổ ác liệt và hy sinh để đi đến thắng lợi, giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám, cùng nhân dân cả nước đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.

Trải qua 85 năm (1930-2015), cảnh quan thiên nhiên nơi đây đã thay đổi không còn hiện trạng như xưa. Do nhu cầu sản xuất, khai thác, rừng đã được vỡ hoang thành ruộng vườn. Năm 2002 trên vùng đất này, nhân dân địa phương đã xây dựng một nhà bia tưởng niệm với tên gọi: Bia Kỷ niệm nhóm đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Tây Ninh. Đến năm 2005 Tỉnh ủy Tây Ninh cho xây dựng lại với tên gọi là: Khu lưu niệm cơ sở Đảng đầu tiên tỉnh Tây Ninh tại Giồng Nần. Năm 2012 Tỉnh ủy Tây Ninh tiếp tục nâng cấp và cho xây dựng thêm Nhà lưu niệm Nông hội đỏ. Hiện tại di tích Địa điểm thành lập cơ sở Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Tây Ninh tại Giồng Nần được khoanh vùng trên tổng diện tích 1073.12m2.

Với những giá trị về mặt lịch sử di tích Địa điểm thành lập cơ sở Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Tây Ninh tại Giồng Nần, được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 3991/QĐ-BVHTTDL ngày 12/11/2013 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch.

Theo Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Tây Ninh

30/05/2016 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2016-05/GiongNan_Key_30052016103710.jpg
Các điểm tham quan du lịch ở Tây NinhCác điểm tham quan du lịch ở Tây Ninh
1. Khu Di tích lịch sử Văn hóa -  Danh thắng và du lịch núi Bà Đen
1. Khu Di tích lịch sử Văn hóa -  Danh thắng và du lịch núi Bà Đen là quần thể di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Nam bộ. Núi Bà Đen cao 986m, là đỉnh núi cao nhất vùng Đông Nam bộ, có hệ thống hang động hoang sơ và cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ mang trong mình truyền thuyết Bà Đen linh thiêng. Từ năm 2013 cho đến nay, công ty Cổ phần Cáp treo núi Bà đã đưa vào hoạt động hệ thống cáp treo mới công nghệ Châu Âu, vận hành song song với hệ thống cáp treo trước đây, kết hợp với hệ thống máng trượt hiện đại phục vụ nhu cầu ngắm cảnh, khám phá của du khách, tạo nên một điểm du lịch kết hợp với hệ thống cáp treo- máng trượt đầu tiên trên toàn quốc tạo nên một điểm du lịch tâm linh, dã ngoại thú vị, hàng năm thu hút khoảng 2,5 triệu du khách đến tham quan, hành hương, du lịch trong các lễ hội: Hội Xuân núi Bà Đen; Lễ hội Động Kim Quang; Lễ vía Bà Đen... 
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 29/12/2014. Theo đó, khu du lịch quốc gia núi Bà Đen với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hình thành hoàn chỉnh cơ cấu khu du lịch và một số dự án trọng điểm, mũi nhọn; đến năm 2030 Khu du lịch quốc gia Núi Bà Đen cùng với Tòa thánh Cao Đài, hồ Dầu Tiếng và thành phố Tây Ninh trở thành một điểm đến quan trọng, hoàn thành các dịch vụ vui chơi giải trí như khu trường bắn, khu cảnh quan gắn với trung tâm đô thị, khu tổ hợp du lịch Ma Thiên Lãnh, khu công viên vui chơi giải trí tổng hợp, khu cắm trại và các hoạt động dã ngoại, khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp, khu vườn thực vật và bảo tồn gen, Trường đua xe mô tô và ô tô địa hình, làng văn hóa Khơ-mer Suối Đá – Khedol và khu dịch vụ giải trí trên đỉnh núi
2. Tòa Thánh Cao Ðài:  Một trong những điểm nổi bật của Tây Ninh là Tòa Thánh Cao Ðài, nơi thờ phượng của một tôn giáo có xuất xứ ngay trong nước với kiến trúc độc đáo là một công trình nghệ thuật tổng hợp hoành tráng kết hợp hài hòa giữa kiến trúc dân tộc vừa mang nét bề thế nguy nga của phương Tây lại vừa mang dáng vẻ huyền bí của phương Đông được xây dựng từ năm 1933 đến tháng Giêng năm 1955 chính thức khánh thành, tọa lạc trong một khuôn viên rộng 1 km2, cách thành phố Tây Ninh 5 km về hướng Đông. Đến đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng kiến trúc độc đáo của Tòa Thánh- Thánh địa của Đạo Cao Đài Tây Ninh nói riêng và tôn giáo Cao Đài nói chung.
Các lễ hội chính của Đạo Cao Đài Tây Ninh là lễ Vía Đức Chí Tôn vào mùng 9 tháng Giêng và Hội Yến Diêu Trì Thánh Mẫu vào Rằm tháng Tám Âm lịch hàng năm với các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo và nghệ thuật đặc sắc. Ngoài ra, các sinh hoạt tôn giáo hàng ngày với các lễ cúng thời cũng là nét đặc sắc tại Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh thu hút số lượng không nhỏ du khách quốc tế đến tham quan.
3. Di tích căn cứ Trung ương Cục Miền Nam: Nằm cách Thành phố Tây Ninh 64 km, là di tích lịch sử được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 10/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ. Khu căn cứ đã được tôn tạo phục chế lại với những căn nhà lợp lá trung quân đơn sơ, gọn đẹp, chen lẫn trong màu xanh của lá rừng với chằng chịt những dây leo. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam đã đề ra chiến lược, vận dụng sáng tạo đường lối cách mạng miền Nam, làm thất bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc.
4. Di tích căn cứ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam: là tổ chức chính trị với mục đính đoàn kết toàn dân miền Nam Việt Nam chống Mỹ cứu nước, đánh đổ chế độ ngụy quyền tay sai, tiến tới thống nhất Việt Nam. Căn cứ nằm trong khu rừng già nguyên sinh, cách Trung tâm Thành phố 54km đường bộ, cách di tích căn cứ Trung ương cục miền Nam 10km. Khi đặt chân tới đây quý khách sẽ được sống lại những ngày tháng lịch sử hào hùng của dân tộc. Ngày 04/12/1988, Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận xếp hạng cấp quốc gia tại quyết định số 3518/QĐ-BVHTT.
5. Di tích căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam: (CPCMLTCHMNVN) là chính phủ được bầu bởi Đại hội đại biểu quốc dân toàn miền Nam do Mặt trân Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam tổ chức. Cùng với Mặt trận, CPCMLTCHMNVN đã hoàn thành sứ mệnh vẻ vang trong việc giành lại độc lập. Khu di tích nằm cách trung tâm Thành phố Tây Ninh khoảng 42 km về hướng Bắc. Nơi đây ghi dấu thời khắc hào hùng đấu tranh chống Mỹ cứu nước của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam. Ngày 04/12/1988, Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận xếp hạng cấp quốc gia tại quyết định số 3518/QĐ-BVHTT.
6. Di tích Căn cứ Ban An ninh Trung ương Cục Miền Nam: thuộc ấp Bảy Bàu, xã Tân Lập, huyện Tân Biên, cách Thành phố Tây Ninh khoảng 50 km về hướng Bắc. Suốt 15 năm chiến đấu, Ban An ninh Trung ương Cục Miền Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phòng gian bảo mật, bảo vệ an toàn tuyệt đối các cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam. Ngày 23/12/1995, Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận xếp cấp hạng quốc gia tại quyết định số 3777/QĐ-BT
7. Di tích Chiến thắng Tua Hai: Di tích thuộc ấp Tua Hai, xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Cách Thành phố Tây Ninh 7km về hướng Bắc. Nơi đây từng diễn ra trận đánh lịch sử, góp phần mở màn cho phong trào đồng khởi vũ trang ở miền Nam và đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hoá ngày 23/7/1993.
8. Hồ nước Dầu Tiếng: Hồ nước Dầu Tiếng nằm ở phía Đông tỉnh Tây Ninh, cách thành phố Tây Ninh khoảng 30km, nằm trong tuyến du lịch liên hoàn giữa Thành phố Tây Ninh – Toà thánh Tây Ninh – Núi Bà Đen. Hồ Dầu Tiếng là công trình thủy lợi lớn nhất nước, có diện tích 27.000 ha, có sức chứa 1,5 tỷ m3 nước, tưới tiêu cho đồng ruộng trong tỉnh và các tỉnh lân cận, là hồ thuỷ lợi hàng đầu của cả nước, có tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của khu vực miền Đông Nam Bộ, rất phù hợp cho việc đầu tư và phát triển khu du lịch sinh thái.
9. Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát: Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát nằm trên địa bàn 3 xã: Tân Lập, Tân Bình, Hòa Hiệp thuộc huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Là vùng giáp ranh biên giới Việt Nam – Campuchia, khu vực này còn là địa danh nổi tiếng với những di tích văn hóa - lịch sử trong các thời kỳ kháng chiến, nơi ra đời Căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Do những giá trị về sinh thái tự nhiên, văn hóa, lịch sử, nơi đây đã và đang trở thành nơi tham quan, học tập, nghiên cứu, là một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn.
10. Tháp cổ Bình Thạnh: là một trong hai ngôi tháp cổ (Tháp Chót Mạt tại ấp Xóm Mới, xã Tân Phong, huyện Tân Biên) trên đất Tây Ninh còn lại tương đối nguyên vẹn. Đây là một di tích kiến trúc cổ quý giá, một công trình kiến trúc mỹ thuật đánh dấu một nền văn minh của loài người cách nay trên 1.000 năm. Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia năm 1993.
11. Khu du lịch Long Điền Sơn: cách thành phố Tây Ninh khoảng 5 km được xem là trong những khu du lịch lý tưởng của du khách trong và ngoài tỉnh trong những năm gần đây. Phong cảnh Long Điền Sơn rất hữu tình, khu du lịch mang đậm nét truyền thống và bản sắc của làng quê và văn hóa Việt. Khu du lịch Long Điền Sơn còn có công viên nước rất hấp dẫn nhất là đối với trẻ em vào những dịp cuối tuần và là điểm du lịch độc đáo của vùng biên Tây Ninh.
12. Cửa khẩu Mộc Bài Tây Ninh: Mộc Bài là cửa khẩu quốc tế đường bộ lớn nhất phía Nam trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam- Campuchia. Cửa khẩu Mộc Bài không chỉ là một cửa ngõ của tỉnh Tây Ninh trong việc phát triển giao lưu thương mại, du lịch với Campuchia mà còn giữ vai trò quan trọng trong xây dựng, phát triển kinh tế hướng ngoại. Cửa khẩu Mộc Bài có lợi thế đặc biệt vì nằm trên đường xuyên Á (con đường bắt đầu từ Myanmar, qua Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia và kết thúc ở Quảng Tây -Trung Quốc ). Theo con đường này, Mộc Bài chỉ cách TP. Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế lớn nhất của Việt Nam 70 km và Thủ đô PnomPenh của Campuchia 170 km. 
13. Khu du lịch sinh thái Ma Thiên Lãnh: Thung lũng Ma Thiên Lãnh nằm tiếp giáp giữa ba ngọn núi: núi Bà, núi Phụng và núi Heo (nằm trong quần thể núi Bà Đen, thuộc địa bàn xã Thạnh Tân, thành phố Tây Ninh). Đường lên khu vực Ma Thiên Lãnh quanh co uốn lượn, một bên là vách núi cao, một bên là vực sâu, cây rừng xanh mướt. Địa thế đó tạo cho thung lũng Ma Thiên Lãnh khí hậu mát mẻ, trong lành, với dòng suối Vàng mát lạnh chảy từ trên núi xuống và cây cối quanh năm xanh tươi. Với khung cảnh núi rừng hùng vĩ và thơ mộng đó, nơi đây  là một điểm du lịch sinh thái và dã ngoại hấp dẫn. 
14. Di tích lịch sử Bời Lời – Căn cứ kháng chiến của Tỉnh ủy Tây Ninh: thuộc ấp Sóc Lào, xã Đôn Thuận, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh cách trung tâm thị trấn Trảng Bàng 16km. Bời Lời là tên gọi dân gian để chỉ một loại cây gỗ mọc tự nhiên thành một khu rừng già, rộng gần 200km2. Bời Lời là Trung tâm đầu mối vào căn cứ Bắc Tây Ninh qua các cuộc kháng chiến. Vào thời Việt Nam Cộng Hoà,  nơi đây là căn cứ Tỉnh ủy Tây Ninh và các cơ quan dân chính của tỉnh.  Đây còn là một phần của khu "Tam giác sắt" nổi tiếng trong chiến tranh. Căn cứ Bời Lời được công nhận là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số: 02/1999/QĐ-BVHTT ngày 26/01/1999.
15.Tháp Chót Mạt: Khu đền tháp được xây dựng trên gò đất đắp cao giữa cánh đồng, ngày nay thuộc ấp Xóm Mới, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Ngôi tháp mang tên Chót Mạt được xây dựng khoảng thế kỷ 8 đã được Bộ VHTT công nhận di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 937/QĐ-BT ngày 23/7/1993.  Tháp Chót Mạt là một trong ba đền tháp còn lại ở Nam Bộ (cùng với tháp Bình Thạnh – Trảng Bàng còn tương đối nguyên vẹn và tháp Vĩnh Hưng - Vĩnh Lợi - Bạc Liêu). Ngoài ra các đền tháp cổ còn lại ở Tây Ninh đã trở thành phế tích trải dài dọc lưu vực sông Vàm Cỏ Đông, là đối tượng để nghiên cứu và giới thiệu của một nền văn minh từng phát triển trong quá khứ. 
16. Đền Thờ Quan Lớn Trà Vong: Năm 1749 (Kỷ Tỵ), Triều Đình Huế cử ba anh em nhà họ Huỳnh: Huỳnh Công Giản, Huỳnh Công Thắng, và Huỳnh Công Nghệ là các quan đại thần vào trấn nhậm vùng đất Tây Ninh. Ba ông cùng với đội binh mã của triều đình thực hiện việc di dân khai hoang lập ấp và giữ gìn an ninh ở vùng đất biên cương. Tưởng nhớ công ơn của 3 anh em nhà họ Huỳnh và các nghĩa binh, nhân dân địa phương lập đền, miếu để thờ ở nhiều nơi và được gọi chung là đền thờ Quan lớn Trà Vong. Ngôi mộ ông Huỳnh Công Giản (tức Quan lớn Trà Vong) được nhân dân chôn cất tại ấp Trà Hiệp xã Trà Vong - huyện Tân Biên. Đền thờ ông được nhân dân xây dựng ở nhiều nơi như: xã Mỏ Công – huyện Tân Biên; ấp Cầy Xiêng, xã Đồng Khởi - huyện Châu Thành; xã Thạnh Tân – thành phố Tây Ninh .
Theo Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Tây Ninh


30/05/2016 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Lễ hội truyền thốngLễ hội truyền thống
a. Lễ hội núi Bà Đen:

​​- Hội Xuân núi Bà Đen: Sau T​ết Nguyên đán, tiết xuân mát mẻ, du khách từ bốn phương  kéo về Núi Bà ở Tây Ninh mở hội xuân. Bắt đầu từ ngày mùng 4 tháng giêng, Núi Bà trở nên đông vui tấp nập và kéo dài trong suốt tháng giêng. Một số du khách là những người du xuân đến Núi bà để chiêm ngưỡng lễ hội cũng như thiên nhiên xinh đẹp của Núi Bà, nơi đỉnh núi có mây phủ quanh năm, nên còn gọi là "Vân Sơn". Trong dịp này những người hành hương về Núi Bà, thường xin những gói giấy đỏ trong đựng một nhúm gạo, hoặc tiền lẻ coi như xin lộc Bà đầu năm để làm ăn phát lộc, phát tài.

- Lễ hội truyền thống động Kim Quang (tổ chức vào ngày 14 tháng Giêng âm lịch). Được duy trì liên tục hàng năm (từ năm 1983 đến nay) nên lễ hội động Kim Quang đã trở thành một nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của địa phương huyện Hoà Thành nói riêng, tỉnh Tây Ninh nói chung. Trong kháng chiến chống Mỹ, Huyện uỷ và Huyện đội Toà Thánh đóng tại động Kim Quang, một động đá lớn nằm về phía Tây Nam sườn núi Bà Đen, ở độ cao khoảng 150m. Lễ hội động Kim Quang còn là dịp để tuổi trẻ Hoà Thành được ôn lại truyền thống cách mạng, tưởng nhớ công lao của các liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

- Lễ vía Bà Đen: được tổ chức vào các ngày mùng 4,5,6 tháng 5 âm lịch. Vào lúc không giờ đêm mùng 3 rạng mùng 4, lễ tắm Bà được tổ chức trang nghiêm tại đền thờ. Lúc này cửa điện được đóng kín, không có khách bên ngoài tham dự. Điều hành lễ tắm Bà là một phụ nữ cao tuổi. Tắm xong, người ta mặc áo mới cho Bà, rồi lần lượt lạy bà. Trong suốt ngày chính hội, từ sáng tinh mơ đến 8 giờ tối, khói hương cháy nghi ngút trên bàn thờ Linh Sơn Thánh Mẫu và Bà Chúa Xứ, bàn thờ Phật, bàn thờ hộ Pháp, bàn Giám Trai, bàn ông Tiêu.

b. Lễ hội của Đạo Cao Đài Tây Ninh: có 2 lễ lớn tiêu biểu là lễ Vía Đức Chí Tôn (mùng 8 tháng Giêng âm lịch) và lễ hội Diêu Trì Thánh mẫu (rằm tháng 8 âm lịch). Bên cạnh những nghi thức dâng hương, cúng lễ, đọc kinh theo tập tục của đạo Cao Đài trong những ngày lễ, các nghệ nhân còn tổ chức các cuộc biểu diễn nghệ thuật, múa hát, đưa rước. Đáng chú ý là nghệ thuật múa Tứ Linh (múa rồng, múa lân, quy, phụng) trong các cuộc lễ như trong đám rước. Những ngày lễ trọng ngày không chỉ quy tụ tín đồ đạo Cao Đài và dân chúng Tây Ninh, mà còn có không ít các tín đồ Cao Đài trong cả nước du khách ở Nam bộ cũng về dự lễ.

c. Lễ hội truyền thống động Kim Quang (tổ chức vào ngày 14 tháng Giêng âm lịch). Được duy trì liên tục hàng năm (từ năm 1983 đến nay) nên lễ hội động Kim Quang đã trở thành một nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của địa phương huyện Hoà Thành nói riêng, tỉnh Tây Ninh nói chung. Trong kháng chiến chống Mỹ, Huyện uỷ và Huyện đội Toà Thánh đóng tại động Kim Quang, một động đá lớn nằm về phía Tây Nam sườn núi Bà Đen, ở độ cao khoảng 150m. Lễ hội động Kim Quang còn là dịp để tuổi trẻ Hoà Thành được ôn lại truyền thống cách mạng, tưởng nhớ công lao của các liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

d. Lễ giỗ Quan Lớn Trà Vong: được tổ chức vào ngày 15 và 16 tháng 2 âm lịch hằng năm. Nhiều nơi tổ chức cả hát bội và các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phong phú mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Nghi thức lễ giỗ ba anh em Quan Lớn Trà Vong gần giống như lễ hội đình ở Nam Bộ và trong khu vực Tây Ninh. Lễ vật dâng cúng chủ yếu là các thức ăn mặn, heo, gà, hương, hoa, đèn nến... Có chủ tế và các lễ sinh cũng như có ban cổ nhạc tham dự tấu các bản nhạc dân tộc khi hành lễ. 

Theo Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch

30/05/2016 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Miếu Quan Đế (Chùa Ông Phước Kiến)Miếu Quan Đế (Chùa Ông Phước Kiến)
Miếu Quan Đế do người Hoa được xây dựng tại khu phố 4, phường II, Thị xã Tây Ninh, người Việt thường gọi là chùa Ông.

congchuaongquande.jpg

Quan công là một nhân vật trong thời Tam quốc (Ngô - Thuỵ - Thục) ở Trung Quốc, và được xem như là người "Vạn cổ nhất nhân" tượng trưng cho Đức – Trí – Dũng và được người Hoa tôn sùng lập Miếu thờ nhiều nơi.

Miếu Quan Đế Thị xã Tây Ninh xây dựng theo kiểu kiến trúc cổ truyền thống Trung Hoa. Toàn bộ công trình được kiến trúc khép kín theo hình chữ Quốc, dài 23cm, rộng 20m (chu vi 86m). Mặt cắt dọc hình chữ nhị. Ở giữa có sân nắng (giếng trời- theo quan niệm của người Hoa). Cột gỗ tròn, vách gạch, mái lợp ngói âm dương và ngói mũi hài sơn màu vàng, đỏ.

Chính giữa Miếu thờ Tượng Quan Công cao 0,5m, trong tư thế một tay vuốt râu, một tay cầm quyển sách – Hai bên tả, hữu thờ tượng Châu Xương và Quan Bình. Hai gian bên thờ mẹ Sinh, mẹ Độ và Thần Tài.

Gian chính được bài trí trang nghiêm và lộng lẫy bởi các đồ thờ tự, bát bửu, lư hương và các mảng chạm khắc đều có tuổi trên 100 năm.

Sân vườn trước Miếu rộng, có hồ bán nguyệt, trồng sen và nhiều cây cảnh quý hiếm.

Hằng năm vào ngày rằm tháng giêng và ngày 26 tháng 4 âm lịch tổ chức cúng lễ. Đông đảo cộng đồng người Hoa ở Tây Ninh đến cúng bái.

20/01/2015 12:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/congchuaongquande.jpg
Đình Thanh PhướcĐình Thanh Phước
Đình Thanh Phước được xây dựng trên một gò đất cao có nhiều cây dầu cổ thụ, nên đình còn có tên gọi khác là đình Gò Dầu. Toạ lạc tại Thị trấn Gò Dầu, đình Gò Dầu là một trong những ngôi đình cổ có quy mô lớn so với các ngôi đình khác trong tỉnh Tây Ninh.

dinhthanhphuoc.jpg

Trên khuôn viên rộng 10.000m2, xung quanh có nhiều cây dầu cổ thụ. Kiến trúc đình theo hình chữ Tam, mặt chính quay về hướng Tây nhìn ra sông Vàm Cỏ. Diện tích xây dựng 820m2 gồm có tiền đình, chánh đình và hậu đình, có khu sân đình nối liền với nhà (sân khấu) bát bộ. Đình được xây dựng dựng bằng chất liệu bền vững, tường gạch, cột bê tông, mái lợp ngói.

Đình Thanh Phước được xây dựng trong thời kỳ sau Bình Tịnh (An Tịnh), Phước Lộc (Gia Lộc), An Hòa kế đến Gia Bình... cư dân trên vùng đất này tiếp tục phát triển khai hoang, lập ấp đến vùng đất Thanh Phước ngày nay. Thời bấy giờ trung tâm Thanh Phước nằm cả hai bên tả và hữu sông vàm Cỏ Đông trên các gò đất cao có nhiều cây dầu - về sau còn có tên gọi là Gò Dầu Thượng (khu vực vực xã An Thạnh, huyện Bến Cầu), Gò Dầu hạ thuộc xã Thanh Phước. Năm 1963 Chánh quyền Cách mạng tách xã Thanh Phước ra một phần thành lập Thị trần Gò Dầu. Do vậy tên đình Thanh Phước ngày nay nằm trên đất Thị trấn Gò Dầu.

 Theo các bộ lão – Ban Hội đình Thành Phước (cụ Vi Văn Bền 83 tuổi) cho biết, từ xa xưa linh thần đã được thờ tại miếu, rồi đến đình ở cặp sông Vàm Cỏ Đông, lâu ngày bị sụp lỡ, nên nhân dân di đời lên xây cất ở vị trí ngày nay.

 Linh thần Húy Đặng Văn Châu (có người nói Huỳnh Thanh Phương) – Ngài là người trung can nghĩa khí, đã cùng nhân dân địa phương và nghĩa binh lập căn cứ chống thực dân Pháp từ thời Vua Tự Đức tại xoài Đồn (xóm xoài Đồn) gây cho quân Pháp nhiều tổn thất. Trong một trận ông bị giặc Pháp bắt và đày đi Côn Đảo. Khi được trả tự do ông trở về tiếp tục cùng nhân dân vùng này lập căn cứ kháng Pháp và khai khẩn đất đai tích trữ lương thực để chiến đấu lâu dài.

 Khi ông qua đời nhân dân lập miếu thờ về sau dựng đình để tôn thờ ghi nhớ công ơn. Ông được nhà Vua sắc phong Thành Hoàng bổn cảnh (sắc phong bị thất lạc do chiến tranh). Đình Thanh Phước đã được khoanh vùng bảo vệ và đang lập thủ tục đề nghị Bộ VHTT xếp hạng là di tích lịch sử - văn hoá.

20/01/2015 12:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/dinhthanhphuoc.jpg
Đền thờ Trần Hưng ĐạoĐền thờ Trần Hưng Đạo
Đền thờ đức Trần Hưng Đạo tọa lạc tại khu phố 3, phường III Thị xã Tây Ninh . Nguồn gốc của ngôi đền xuất phát từ bộ phận người Việt Nam sinh sống ở huyện Mi-mốt, Kông-pông chàm, Campuchia.

Mặc dù, sống trên đất khách, quê người nhưng cộng đồng người Việt tại đây luôn hướng về cội nguồn của dân tộc. Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, cộng đồng người Việt ở đây đã lập nên ngôi đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo - vị anh hùng dân tộc, Đền đã thu hút khá đông đảo người Việt ở Mi-mốt đến cầu an, chiêm bái nhờ sự chở che để người dân Việt tha phương được bình an, làm ăn thịnh vượng.

Đến năm 1970, LonNon-Xi-Rich-Ma-Tắc được sự hỗ trợ của Đế Quốc Mỹ và Ngụy quyền Sài Gòn đã âm mưu đảo chánh lật đổ quốc vương Si-ha-núc. Cuộc chiến tranh Đông Dương bùng nổ, một bộ phận lớn cộng đồng người Việt ở Campuchia bị trục xuất về nước. Trong số đó, có bộ phận người Việt ở Mi-mốt chuyển về Tây Ninh định cư sinh sống., số người này cùng nhân dân vùng Thị xã Tây Ninh xây dựng nên ngôi đền đức Thánh Trần phỏng theo kiểu nhà ở Bắc bộ (giống như đền thờ Trần Hưng Đạo ở Mi-mốt), cùng với sắc phong và tượng đức Thánh Trần để thờ cúng.

Ngôi đền được xây dựng có 5 gian, cột gỗ tròn, xây tường gạch 3 phía, phía trước cửa gỗ, mái lợp ngói. Ở gian chính giữa trưng bày bức đại tự, hai đôi liễng. Trung tâm thờ tượng Trần Hưng Đạo, một gian thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tháng 8 ngày 14 năm 1941 (âm lịch) Vua Bảo Đại (năm thứ 14) đã sắc phong:

 "Vâng mệnh tưởng nhớ vị thần phò dân giúp nước Trần Hưng Đạo. Xin thần linh ứng giúp dân sở tại vun trồng tại xứ Mi-mốt Cao Miên .Nay vua ban chiếu mệnh thứ dân lập đền thờ lớn. Mong thần phù hộ, bảo vệ là dân của nước ta".

 Ngôi đền được nhân dân địa phương thường xuyên bảo vệ và tu sửa. Đây là ngôi đền thờ Trần Hưng Đạo duy nhất ở Tây Ninh.



20/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Đền thờ Quan Lớn Trà VongĐền thờ Quan Lớn Trà Vong
Năm 1749 (Kỷ Tỵ), Triều Đình Huế cử ba anh em nhà họ Huỳnh: Huỳnh Công Gỉan, Huỳnh Công Thắng, và Huỳnh Công Nghệ là các quan đại thần vào trấn nhậm vùng đất Tây Ninh. Ba ông cùng với đội binh mã của triều đình thực hiện việc di dân khai hoang lập ấp và giữ gìn an ninh ở vùng đất biên cương.

Tưởng nhớ công ơn của 3 anh em nhà họ Huỳnh và các nghĩa binh, nhân dân địa phương lập đền, miếu để thờ ở nhiều nơi và được gọi chung là đền thờ Quan lớn Trà Vong.

travong.jpg

Ngôi mộ ông Huỳnh Công Giản (tức Quan lớn Trà Vong) được nhân dân chôn cất tại ấp Trà Hiệp xã Trà Vong, Tân Biên. Đền thờ ông được nhân dân xây dựng ở nhiều nơi như: Tân Phong, Trà Vong (Tân Biên), Cầy Xiêng, Đồng Khởi (Châu Thành), Thái Vĩnh Đông, Phường I (Thị xã), Thạnh Tân (Hoà Thạnh).

Đền thờ Quan lớn Trà Vong tại Thái Vĩnh Đông, phường I, Thị xã Tây Ninh:

Đền xây dựng trên gò đất cao, phía trước có nhiều cây dầu cổ thụ. Đền có 3 gian, hình chữ nhị (2 lớp), chiều dài 14 mét, chiều ngang 10m, tường xây gạch, mái lợp ngói âm dương.

Chánh đền có sắc phong chữ thấn cùng bài trí các đồ thờ như lư hương, chưng đèn, lễ bộ. Trên nóc là hoành phi và bức đại tự sơn son thếp vàng "Đáp tạ thần ân" hai bên có 2 câu đối.

"Nhật tảo xuất anh tài vị quốc vong ân

Trứ trứ phương danh thuỳ trúc bạch

Tà dương trữ man tặc, ưu quân trí mạng

Nguy nguy chính khí quán sơn hà"

 Đền Quan lớn Trà Vong ở xã Mõ Công (Tân Biên)

Ngôi đền nằm cặp quốc lộ 22B gần trung tâm xã Mõ Công. Ngôi đền được nhân dân thường gọi là "Dinh ông lớn Trà Vong"

Cổng vào được xây theo hình chữ nhị 5m x 9m, gồm phần tiền đền và chính đền, mái ngói mũi, phần chính đền có hoành phi đề: "Quan lớn Trà Vong", ở giữa bên trái đề: "Long phi niên Đinh dậu", bên phải "Quan đại thần chuyển binh" bằng hán tự.

Ngôi đền ở xã Thái Bình

Đền toạ lạc tại ấp Cầy Xiêng xã Thái Bình (Châu Thành) cặp quốc lộ 22B, cách thị xã Tây Ninh chừng 5km về hướng Tây Bắc. Đây là ngôi đền còn giữ được phần hậu đền xây dựng cách nay trên 100 năm. Đền kiến trúc theo hình chữ tam, tường gạch, mái lợp ngói. Phần tiền đền 6m x 6m, hậu đền 3m x 3m.

Chánh đền thờ bài vị và tượng quan lớn cao 1m đứng đeo gươm trận uy nghiệm lẫm liệt.

Đền quan lớn Trà Vong ở Suối Vàng.

Đây là khu lòng chảo nằm sát chân núi Bà Đen, tương truyền đây là nơi tập luyện tập binh mã ngày xưa của quan lớn Trà Vong.

Đền xây dựng khá lâu, đến năm 1995 do mở rộng lộ giới tỉnh lộ 4, nhân dân địa phương đã xây dựng ngôi đền mới khang trang tường gạch, cột bê tông, mái lợp ngói, kiến trúc theo chữ hình tam. Đây là ngôi đền ông lớn Trà Vong lớn nhất hiện nay so với các đền hiện hữu thờ ông lớn Trà Vong trên đất Tây Ninh.

Ngoài ra còn có các nền thờ ông Huỳnh Công Nghệ và Huỳnh Công Thắng ở những nơi khác.

Tại Vàm Bảo, Bến Thứ rạch Vịnh xã Hảo Đước, Châu Thành có mộ và đền thờ ông Huỳnh Công Nghệ nằm cạnh khu dân cư thưa thớt hiện đang xuống cấp nặng. Tại thành Bảo Quang Hoá, xã Cẩm Giang, Gò Dầu có ngôi đền thờ ông Huỳnh Công Thắng. Ngôi đền kiến trúc hai lớp hình chữ nhị, tường gạch, mái lợp ngói có diện tích 8m x 16m. Trong đền thờ bài vị và tượng Huỳnh Công Thắng.

Trên vùng đất phía Tây Bắc Tây Ninh nhân dân xây dựng nhiều đền thờ quan lớn Trà Vong. Tuy nhiên, do chiến tranh ác liệt kéo dài nên nhiều ngôi đền bị tàn phá mà nhân dân chưa có điều kiện xây dựng lại.

Hàng năm vào các ngày 16 và 17 tháng 3 âm lịch tại các đền nhân dân địa phương tổ chức cúng lễ tưởng nhớ đến ông lớn Trà Vong rất trang trọng. Nhiều nơi tổ chức cả hát bội và các hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian phong phú mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc.


20/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/travong.jpg
Đình Long GiangĐình Long Giang
 Đình Long Giang toạ lạc tại Ấp Bàu, xã Long Giang, huyện Bến Cầu. Cách trung tâm huyện lỵ khoảng chừng 10km về hướng Tây Nam.

Long Giang là vùng đất được khai phá từ thời cụ Trần Văn Thiện nằm bên hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông. Theo dân gian thì ngôi đình này thờ Thần Lãnh Binh Két - Người được triều đình cử trấn nhậm vùng này để chăm lo việc bảo vệ dân, khai hoang lập ấp.

dinhLongGiang.jpg

Sau năm 1862, thực dân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam bộ, Lãnh Binh Két cùng các nghĩa binh và nhân dân địa phương lập nên căn cứ chống Pháp tại đây, Ông cho xây đắp nhiều thành lũy bằng đất (cách đình 500 mét hiện nay còn một đoạn thành gần nguyên vẹn). Từ dinh lũy này Lãnh Binh Két cùng nghĩa binh hoạt động khắp địa bàn thuộc ba huyện Bến Cầu, Gò Dầu và Trảng Bàng. Bằng phương pháp chiến tranh du kích "xuất quỷ nhập thần" đạo quân của Lãnh Binh Két đã tiêu hao nhiều sinh lực địch; bảo vệ vùng đất và biên giới phía Tây sông Vàm Cỏ Đông. Sau khi qua đời, nhân dân địa phương tưởng nhớ lập miếu và xây đình thờ ông.

Đình Long Giang xây dựng gồm 3 lớp: tiền đình, chánh đình và hậu đình. Với những hàng cột gỗ to kê đá tảng 40cm. Do tàn phá của chiến tranh nay chỉ còn lại phần hậu đình với diện tích 264m2. Tường xây gạch, mái lợp ngói (phần tiền đình và chánh đình chỉ còn lại nền đất và một số đá tảng kê cột).

Tuy nhiên, các đồ thờ tự, trang thờ, bát bửu, rùa hạc, chiêng trống vẫn được bảo vệ và trưng bày theo đúng nghi lễ của chùa.. Đình Long Giang đã có sắc phong nhưng đã mất do chiến tranh tàn phá.

Nằm trong hệ thống đình của người Việt, đình Long Giang được xây dựng sát biên giới quốc gia, giáp với Campuchia. Nó gắn liền với quá trình khai hoang lập ấp và bảo vệ biên cương tổ quốc của nhân dân ta cách nay hơn 150 năm.

20/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/dinhLongGiang.jpg
Đình Phước HộiĐình Phước Hội
Đình Phước Hội được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, toạ lạc tại ấp Phước Hội, xã Suối Đá, huyện Minh Dương Châu, Tây Ninh. Thời kỳ xây dựng đình có tên xã là Phước Hội thuộc Tổng Hàm Ninh thượng. Sau năm 1975 xã Phước Hội đổi tên thành xã Suối Đá nên nhân dân quen gọi là đình Suối Đá.

Từ thời Thiệu Trị, ngôi đình do nhân dân xây cất để thờ hai vị thần. Một vị thần do nhân dân tôn thờ là ông Đào Văn Chữ và một vị do Triều đình sắc phong là ông Phạm Văn Điểng. Cả hai ông đều là người có công khai hoang, lập ấp, di dân chống giặc bảo vệ nhân dân.

dinhphuochoi.jpg

Ông Phạm Văn Điểng: Tả tướng quân võ tín hầu, được Vua Minh Mạng (1820-1840) cử vào trấn nhậm ở Phước Hội và ông đã qua đời tại đây. Vua sắc phong Thành Hoàng bổn cảnh (Thiệu Trị năm thứ II, tứ nguyệt, thập ngũ nhật "15/4/1842").

Ông Đào Văn Chữ là người kế tục ông Điểng lãnh đạo nhân dân khai hoang lập ấp, chống giặc nên khi qua đời được nhân dân tưởng niệm thờ cúng tại đình.

Đình Phước Hội được xây dựng trên khuôn viên rộng 5000m2. Diện tích đình 300m2, gồm 3 lớp (hình chữ Tam) với 3 gian chạy suốt gồm tiền tế, chánh và hậu đình. Đây là một ngôi đình cổ ở huyện Dương Minh Châu và tỉnh Tây Ninh. Do thời gian và chiến tranh tàn phá, ngôi đình được nhân dân địa phương trùng tu nhiều lần nhưng hiện nay vẫn đang ở tình trạng xuống cấp nặng.

Sự hiện diện và tồn tại của đình Phước Hội suốt 200 năm qua trên vùng đất phía Bắc núi Bà Đen vốn trước đây là vùng rừng gìà hoang dại, đã khẳng ịnh sự có mặt của người Việt ở nơi đây khá sớm.

20/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/dinhphuochoi.jpg
Chùa Khơ me ở Khe-ĐonChùa Khơ me ở Khe-Đon
 Chùa Khơme được xây dựng tại ấp Khe-Đon, xã Tân Thành, Huyện Hoà Thành, nằm trên tỉnh lộ 4. Khe-Đon là một địa danh nằm phía Bắc Núi Bà Đen. Từ lâu tại đây có nhiều phum sóc của người Khơme sinh sống.

Trên đất Tây Ninh ngoài cụm dân cư Khơme ở Khe-Đon còn có một số cụm dân cư Khơme sinh sống như ở Bàu Ếch, Trường Hòa, huyện Hòa Thành, các xã biên giới Hoà Thạnh (Châu Thành), Kà ốt, Tân Đông (Tân Châu), Hoà Hiệp (Tân Biên)...

khome.jpg

Chùa Khơ-me ở Khe-Đon được xây cất bằng gạch, mái lợp ngói, kiến trúc theo kiểu chùa có nhiều lớp mái dốc, đã lượt bớt những hoạ tiết, hoa văn, chạm trổ không giống và quy mô như các chùa Khơme ở Sóc Trăng và Trà Vinh. Đồ thờ tự cũng đơn giản hơn các chùa Khơ-me ở Nam bộ. Sau năm 1975, ngôi chùa này được xây cắt lại trên nền chùa cũ.

 Lễ hội tại chùa chủ yếu là tết Chôm-thơ-nam-thơ-mây - Tết rước nước đầu năm, theo phong tục người Khơ-me để cầu nguyện cho mưa thuận, gió hoà, cây cối xanh tươi, con người khoẻ mạnh. Lễ Tết này được tổ chức vào các ngày từ 13 đến 15 tháng 4 (âm lịch) hàng năm.

Cộng đồng người Khơ-me tại đây hiện có chưa đến 100 hộ, nhưng họ vẫn bảo lưu được các tập quá, phong tục và sinh hoạt văn hoá cộng đồng được tựu trung tại chùa Khe-Đon.

20/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/khome.jpg
Cẩm Phong Tự (Chùa Quan Huế) Cẩm Phong Tự (Chùa Quan Huế)
Cẩm Phong Tự là một ngôi chùa cổ trên 100 năm, được xây dựng vào năm 1848 , thuộc Phật giáo Nam tông, phái cổ Môn Sơn. Chùa toạ lạc tại ấp Cẩm Thắng , xã Cẩm Giang, huyện Gò Dầu, nằm cạnh quốc lộ 22B và sông Vàm Cỏ Đông, cách Thị xã Tây Ninh chừng 15km.

Cẩm Phong tự gồm 3 lớp nhà hình chữ Tam, vách tường gạch, mái lợp ngói âm dương, mặt hướng Đông – Nam, hậu giáp sông Vàm Cỏ Đông, khuôn viên rộng 2000m2 . Với 3 tháp cổ của các vị tổ: Quan Huế, Hòa thượng Phước Khánh Minh Lộc (1858-1906), Hòa Thượng Cửu An (1877-1947).

Qua thời gian và sự tàn phá của chiến tranh, chùa còn lưu giữ được nhiều đồ thờ tự quý hiếm: Đức Đại tự (1989), Tiểu hồng chung (1905) do Phật tử Trần Văn Tài và bà Võ Thị Y Phụng cúng.

Cẩm Giang là lỵ sở của tỉnh tây Ninh vào cuối thế kỷ XVIII, gồm 2 huyện Quang Hoá (Cẩm Giang) và Tân Ninh (Thị xã Tây Ninh).

Cùng với Bảo Quang Hoá, trung tâm dân cư thời bấy giờ. Nơi đây thuận lợi về giao thông thuỷ, bộ, nằm trên trục đường kinh lý cửa xứ thần từ Cao Miên đi qua về Gia Định và ra Huế. Nhiều quan Triều đình Huế được cử vào trấn nhậm tại đây. Đặc biệt là 3 anh em nhà họ Huỳnh: Huỳnh Công Giản , Huỳnh Công Thắng và Huỳnh Công Nghệ.

Trong các quan triều Huế trấn nhậm ở đây có người sau khi về nghỉ đã xây dựng ngôi chùa này. Do nằm cạnh sông Vàm Cỏ Đông có nhiều hoa lục bình tim tím nở quanh năm nên gọi là Cẩm Phong tự. Còn nhân dân thì gọi là chùa Quan Huế (vì do vị quan triều đình Huế vào xây dựng và trụ trì).

20/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Chùa Phước LưuChùa Phước Lưu
Chùa Phước Lưu nằm cạnh quốc lộ 22A, tại trung tâm Thị trấn Trảng bàng, đối diện với bệnh viện và sân vận động Trảng Bàng.

Giữa thế kỷ thứ XIX, chùa Phước Lưu được xây dựng. Ban đầu chỉ là một cái am nhỏ gọi là Am Bà Đồng, sau này được xây dựng thành chùa nên có tên gọi là Chùa Bà Đồng.

Năm 1900, Tổ trường Lục thuộc đời thứ 42 phái Liễu quán đã quyên góp tài chính của phật tử địa phương và cộng đồng người Hoa ở Trảng Bàng sửa chữa và mở rộng chùa và đặt tên là chùa Phước Lưu.

Từ lúc xây dựng đến nay đã qua 5 lần trùng tu sửa chữa vào các năm 1943, 1946, 1975 và 1990. Đây là một ngôi chùa được xây dựng bề thế, khang trang. Hệ thống tượng Phật và các đồ thờ tự có giá trị cao so với các chùa phật ở Tây Ninh. Ngoài tượng Phật Di Lặc, có tượng Di đà tam tôn bằng gốm thếp vàng được mang từ Trung Quốc sang (gốm sứ đời Thanh). Với 15 tượng Phật được làm bằng chất liệu đất nung gốm sứ đời Thanh (chế tác từ Trung Quốc).

Chùa Phước Lưu là nơi có nhiều tượng Phật cùng nhiều hiện vật cổ, có giá trị nghệ thuật cao như: 4 bàn tủ khảm trai, bộ tràng kỷ mặt đá. Đặc biệt có 2 đĩa lớn (đường kính 55cm) 2 choé lam lớn (đường kính 63cm, cao 53cm). Với những hoạ tiết, hoa văn đường phủ men lam là những hiện vật cổ có giá trị độc đáo. Với lối kiến trúc đẹp, hoà với tổng thể thiên nhiên. Ngôi chùa đã được giới thiệu trong quyển "Việt Nam danh lam cổ tự".

20/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Chùa Linh Sơn Tiên Thạch (Chùa Bà)Chùa Linh Sơn Tiên Thạch (Chùa Bà)
Chùa thường được gọi là chùa Bà, tọa lạc trên núi Bà Đen, thuộc xã Ninh Sơn, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Chùa do Thiền sư đạo Trung Thiện Hiếu thuộc chi phái Thiền Liễu Quán khai sơn vào giữa thế kỷ XVIII, năm 1793  

chualinhson.jpg

Chùa Bà ở độ cao khoảng 600m, cùng với các chùa Hang (Linh Sơn An Phước Tự), chùa Trung (Linh Sơn Phước Trung Tự) là những ngôi chùa nổi tiếng ở khu danh thắng núi Bà Đen. . Chùa đã qua nhiều đời trụ trì và được trùng tu nhiều lần. Ni sư Diệu Nghĩa là vị trụ trì đã tổ chức trùng tu, mở rộng cả 3 ngôi chùa những năm gần đây để đón tiếp hàng vạn khách tham quan chiêm bái hàng năm.

20/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/chualinhson.jpg
Cao Sơn Tự (Chùa Cao Sơn)Cao Sơn Tự (Chùa Cao Sơn)
Chùa Cao Sơn thuộc địa phận xã Phước Trạch, cách trung tâm huyện Gò Dầu độ chừng 5km về hướng Đông. Chùa được xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XIX

Caosontu.jpg

Ngôi chùa được xây dựng trên một gò đất cao, rộng, có nhiều câu dầu, sao cổ thụ có tuổi trên 100 năm. Khuôn viên chùa được tạo bởi khúc quanh, lượn của sông Vàm Cỏ Đông tạo thành như một bán đảo. Cùng với ngôi đình cổ Phước Trạch và cảnh quan nơi đây đã trở thành nơi chiêm ngưỡng, du lịch của nhân dân trong vùng.

Cao Sơn Tự mặt nhìn ra sông Vàm Cỏ Đông - hướng Tây Nam. Kiến trúc theo hình chữ Nhị. Dài 22m, rộng 10m, cao 5,8m. Sự khác biệt của Cao Sơn Tự với các ngôi chùa khác trong tỉnh Tây Ninh là sự bài trí thờ phượng. Cao Sơn Tự thờ cả Phật và Thần. Tương truyền thế kỷ XVIII có một bộ phận nghĩa quân Tây Sơn truy đuổi Nguyễn Ánh tại đây; và có một số quan đàng cựu đánh giặc, di dân lập ấp, nhân dân lập Miếu đền rồi đưa vào chùa thờ.

Từ ngoài nhìn vào, phía Đông thờ thần - Quan Đàng cựu. Ở giữa là bàn thờ Tổ quốc, phía sau thờ tượng Phật chẩn đề, tổ đạt ma – gian trung tâm có các tượng di đà, quan âm bồ tát, hộ pháp. Tất cả đều là tượng cổ có giá trị mỹ thuật cao.

Cao Sơn Tự trên khu gò đất cao - một thắng cảnh hữu tình, có nhiều cây cổ thụ sân mát – nơi đây còn là một di chỉ khảo cổ thuộc thời tiền sử (đá mới Đồng Nai). Trong tương lai nơi này sẽ là một trong những địa điểm tham quan du lịch hấp dẫn.

20/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/Caosontu.jpg
Từ Lâm Tự (Chùa Gò Kén)Từ Lâm Tự (Chùa Gò Kén)
Gò Kén tên một địa danh. Nơi đây có nhiều cây kén lá xanh, trái chín như quả hồng đào, mọc trên gò đất rộng, nằm cạnh quốc lộ 22B nên gọi là Gò Kén. Chùa Từ Lâm được xây cất tại đây, nên có tên gọi là chùa Gò Kén. Ngôi chùa toạ lạc tại xã Hiệp Tân, huyện Hoà Thành. Ngôi chùa này do Gíac Hải Từ Phong Hiệp cùng tín đồ Phật tử xây dựng vào cuối thế kỷ thứ XIX.

goken.jpg

Từ thị xã Tây Ninh, hướng về Thành phố Hồ Chí Minh độ chừng 5km, trên quốc lộ 22B. Con đường đất đỏ bên phải dẫn vào chùa với hai hàng cây xanh rợp bóng mát. Trên khuôn viên rộng 20.00 m2 , có trồng nhiều cây ăn quả. Mặt tiền ngôi chùa gồm 3 gian, chạy dài 6 gian. Có Đông Lang và Tây Lang, cửa mái bao quanh. Dáng dấp Từ Lâm Tự là kiến trúc phương Tây, mái lợp ngói. Cách bài trí và thờ phượng có khác với những chùa khác ở Tây Ninh.

Chính điện thờ Đức A-di-đà, Quan âm, Thế chí (bên trên) và Thích ca, Ca diếp, A-nan (bên dưới). Hai bên vách thờ Thập Bát La Hán, Đạt Ma Tổ Sư, địa tạng và bày rõ cảnh thập điện.

Bàn thờ chính giữa chùa có tượng Tiêu Diện đại sĩ đứng nhìn ra, đối diện là Hộ Pháp Già Lam. Bàn Thờ trước Già Lam có tượng đức Ngọc Hoàng ngồi giữa, nam Tào, Bắc đầu hai bên.

Ngoài các đồ thờ tự: Lư hương, chân đèn, còn có trống sấm và đại hồng chung cổ. Ngoài sân chùa có 2 Bảo Tháp của tổ sư Yết Ma Lượng (xây dựng năm 1925) và Hoà Thượng Giác Hải (xây 1939).

Từ Lâm Tự là nơi mà Cao Huỳnh Cư, Cao Hoài Sang và Phạm Công Tắc mượn làm nơi khai đạo Cao Đài Tây Ninh từ 15 tháng 10 Bính Dần (1926) đên rằm tháng giêng Đinh Mão (1927).

20/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/goken.jpg
Phước Lâm Tự (Chùa Vĩnh Xuân) Phước Lâm Tự (Chùa Vĩnh Xuân)
Chùa Vĩnh Xuân toạ lạc tại khu phố I, phường I, Thị xã Tây Ninh, chùa nhìn ra rạch Tây Ninh hướng về núi Bà Đen, nằm cạnh chân Cầu Quan Tây Ninh. . Đây là ngôi chùa trung tâm của giáo hội phật giáo Tây Ninh qua nhiều thời kỳ.

chuaphuoclam.jpg

Khoảng cuối thể kỷ thứ XVIII, trên Núi Bà Đen đã có ngôi chùa đá thờ Linh Sơn Thánh Mẫu. Dân lục tỉnh Nam Bộ hàng năm vào tháng giêng âm lịch hành hương về cúng tế, vãn cảnh chùa Bà, lạy Phật ở Núi Bà Đen ngày càng đông. Lúc ấy, phương tiện đi lại chủ yếu bằng đường sông, ngược sông Vàm Cỏ lên rạch Tây Ninh và neo đậu tàu thuyền ở khu trung tâm Thị xã sau đó lên núi Bà Đen bằng đường bộ.

Chùa Vĩnh Xuân được xây dựng để làm nơi dừng chân của bá tánh và tăng ni, phật tử đi viếng chùa Bà Đen. Vì vậy, chùa Vĩnh Xuân được xem như là một chi nhánh của chùa Bà Đen.

Năm Nhâm Thân (1871) do tổ sư Phước Chi cùng tín đồ phật tử và nhân dân địa phương xây dựng. Chùa Vĩnh Xuân là một trong những ngôi chùa cổ ở Tây Ninh. Kiến trúc xây bằng gạch, cột gỗ tròn, mái lợp ngói. Gồm 3 lớp nhà, mặt hướng về hướng đông, 5 gian có tiền sảnh, hồ sen và tượng Phật Bà quan Thế Âm bồ tát đứng lộ thiên.

Bên cạnh chùa bài trí các ban thờ theo thứ tự của phái phật giáo tiểu thừa. Tại đây, còn lưu giữ nhiều tượng phật cổ, trang trí các hoạ tiết điêu khắc bằng gỗ tinh xảo, nhiều câu đối (liễng) có tuổi trên 100 năm. Ngoài ra, tại chùa còn có giảng đường, nhà tăng ni rộng rãi và khang trang.

20/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/chuaphuoclam.jpg
Báo Quốc TừBáo Quốc Từ
 Báo Quốc Từ cách chợ Long Hoa - Thị trấn Hoà Thành 500m, cách Toà Thánh Cao Đài Tây Ninh khoảng chừng hơn 1km. Báo Quốc Từ là một đền thờ các vua Hùng và một số vua đời Nguyễn do tín đồ đạo Cao Đài xây dựng.

Sau khi thành lập đạo Cao đài và xây dựng xong Tòa Thánh Cao đài, vào thập niên 40 của thế kỷ XX, tín đồ Cao đài đã xây dựng Báo Quốc Từ để thờ cúng tổ tiên. Với ước vọng giữ gìn truyền thống con Lạc cháu Hồng, cầu nguyện cho đất nước thoát khỏi lầm than, cầu cho Quốc thái, dân an.

baoqt.jpg

Công trình kiến trúc đẹp, gọn được xây dựng theo hình óp lục lăng, mỗi cạnh 4m. Chiều cao đến nóc 6,5m, được bao bọc bởi tường xây và rào sắt xung quanh.

Với 3 lớp mái âm dương và những đao công tạo thành kiến trúc vững chắc, vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính hiện đại.

Nội thất được bài trí bài vị sơn son, thếp vàng "Hùng vương quân chi sĩ". Hai bên là bảng "cứu quốc-vong thân" và bức ảnh: Duy Tân, Thành Thái, Hàm Nghi, Cường Để, cạnh đó có các đồ thờ tự: lư hương, chưng đèn, tàn, lọng... tạo khung cảnh thờ phượng trang nghiêm tôn kính.

15/01/2015 12:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/baoqt.jpg
Đình Long ThànhĐình Long Thành
Đình Long Thành thuộc xã Long Thành Nam, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, đuợc xây dựng năm Tự Đức thứ 36 (1883). Ngôi đình thờ Thành Hoàng Trần Văn Thiện.

Ông Trần Văn Thiện là người giúp dân khai khẩn, lập nghiệp và giữ đất. Suốt 40 năm, ông cùng với nhân dân lập thành vùng đất "Ngũ Long" (Long Giang, Long Chữ, Long Thuận, Long Khánh, Long Thành) tao nên một dải đất chạy dọc theo lưu vực sông Vàm Cỏ Đông, chạy từ Cẩm Giang qua thị xã Tây Ninh đến tận Vàm Trảng Trâu, Lò Gò. Để ngày nay ngược xuôi Vàm Cỏ Đông và những kênh rạch về chợ Cầu – Bến Cầu, Bến Kéo, với những cánh đồng lúa vàng tăng vụ, ánh lên màu tím hoa lục bình nhấp nhô sóng nước.

Để tưởng nhớ đến những công lao đó, khi ông mất, nhân dân vô cùng thương tiếc đã chôn cất ông tại Bến Kéo – Và Triều đình Huế đã cho phép dân chúng trong vùng cất đình để thờ ngài và có sắc phong "Thành Hoàng bổn cảnh" Tự Đức tam thập lục niên.

dinhlongthanh.jpg

Đình Long Thành tọa lạc trên khuôn viên thoáng mát rộng 6.040m2, được xây cất theo kiến trúc đặc trưng của các ngôi đình Nam Bộ, trước sân bàn thờ Thần nông. Trên nóc đình là những hình ảnh quen thuộc được đắp nổi hai rồng theo kiểu "Lưỡng long chầu nguyệt", loại rồng thời Nguyễn thế kỷ 19 nổi bật trên nền sơn son là chữ "THẦN" thếp vàng. Các họa tiết trang trí được chạm khắc hoa dây xen kẽ tứ linh, cùng với các bày trí câu đối biểu lộ sự tôn vinh Thành Hoàng bổn cảnh và cầu mong phù hộ cho quốc thái dân an.

Hàng năm vào ngày 18 tháng 3 âm lịch lễ hội Kỳ Yên, nhân dân quanh vùng đến viếng rất đông để nhớ về các vị Tiền hiền – Hậu hiền có công mở đất và giữ đất.

Di tích đình Long Thành được Bộ VHTT công nhận là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số : 1430/QĐ-BT ngày 12/10/1993


15/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/dinhlongthanh.jpg
Đình Gia LộcĐình Gia Lộc
Được bảo tồn tương đối nguyên vẹn, là niềm tự hào của Trảng Bàng, được xem như bộ mặt kiến trúc cổ ở Tây Ninh, tọa lạc tại thị trấn Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Đình được Bộ VHTT công nhận là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số : 3211/QĐ-BT ngày 12/12/1994.

Sau chín năm (1809), làng Bình Tịnh được phong hiệu, có ông trùm Đặng Văn Trước và một số nhân sĩ, đến làng Bình Tịnh xin nhượng lại một phần đất để khai hoang, lập làng với tên gọi là "Phước Lộc Thôn, con rạch và chợ cũ Trảng Bàng cũng ra đời từ ấy. Đến năm 1836, Phước Lộc Thôn đổi thành "Gia Lộc Thôn" cho đến ngày nay.

dinh-gia-loc.jpg

Với những ý nghĩa trên là cho những thành quả đã đạt được, cho nên sau khi ông mất, nhân dân trong vùng lập nên ngôi đình có tên gọi là "Đình Gia Lộc", lễ hội Kỳ yên tổ chức vào ba ngày 14-15-16, tháng 3 âm lịch hàng năm. Và được Bảo Đại năm thứ 8, sắc phong "Dực Bảo Trung Hưng, linh phó chi Thần" ngày 29/8/1933.

Đình nằm trên tổng diện tích 7.200m2, kiến trúc kiểu chữ Tam gồm ba lớp nhà xây, mỗi lớp ba gian hai chái. Mặt bằng cấu trúc hình chữ nhật rộng 545.60m2, với 36 cột gỗ, từ 30-40cm, tròn vo và bóng lộng cùng với 36 cột áp tường 30 x 30cm, chống đỡ toàn bộ vì kèo, xiên, trích… tạo thế vững chắc cho đình, cùng với các đồ tế tự là những công trình chạm khắc có tính nghệ thuật cao. Các hoành phi đại tự, liễu đối được trang trí cân đối, hài hòa từ trong ra ngoài, do những nghệ nhân tài hoa có bàn tay khéo léo tạo nên.

Đình Gia Lộc là nhân chứng của một thời gian lao khổ ải của ông cha ta, mà cụ thể điển hình là ông cả Đặng Văn Trước, cùng với các vị Tiền triều – Hậu hiền nối tiếp nhau xây dựng quê hương ngày thêm giàu đẹp.


15/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/dinh-gia-loc.jpg
Đình An TịnhĐình An Tịnh
 Đình An Tịnh thuộc đất làng An Tịnh được khai phá từ thuở xa xưa, nằm phía tả ngạn rạch Trảng Bàng nay thuộc ấp An Thành, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Gia Long năm 1809, làng được phong hiệu là Bình Tịnh Thôn, đến Minh Mạng năm 1836, đổi tên là An Tịnh cho đến ngày nay.

Đình được khởi công xây dựng vào khoảng những năm đầu của thế kỷ 19, đây là ngôi đình cổ đầu tiên ở vùng xứ Trảng. Tọa lạc trên một gò đất rộng 6.000m2. Đình với hai lớp nhà xây : Tiền đình rộng 105m2, ngôi chính đình và hậu đình nằm sau năm gian tiền đình rộng 102m2. Với nhiều hoành phi, câu đối, nói lên công đức của các vị được thờ, và tấm lòng tri ân, thành kính của dân làng đối với những người có công tạo dựng nên vùng đất trù phú này.

Đình An Tịnh đã trải qua hai lần trùng tu, tôn tạo vào những năm 1957 và 1994, mới được khang trang như ngày nay. Vì làng An Tịnh xưa mang tên Bình Tịnh nên đình có được hai lần sắc phong.

antinh.jpg

- Gia Long năm 1809, sắc phong "Thành Hoàng bổn ảnh".

- Tự Đức năm thứ 5, ngày 20/11/1852, ngự tặng và sắc phong cho Thần Hoàng đình An Tịnh là "Quảng hậu chánh trực đơn chi hầu" lễ hội Kỳ yên vào  ngày 15-16 tháng 3 âm lịch hàng năm.

Từ Bình Tịnh xưa đến An Tịnh của ngày hôm nay. Với một ngôi đình chung của làng gần hai thế kỷ trôi qua, trong quá trình khai hoang phục hóa, để An Tịnh trở thành một vùng đất trù phú, thịnh vượng và giàu truyền thống cách mạng. Với những truyền thống đó, cùng với sự cần cù lao động, dũng cảm không ngại hy sinh của những người mở đất – và đựơc Bộ VHTT công nhận là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 973/QĐ-BT ngày 23/7/1993.

15/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/antinh.jpg
Di tích khảo cổ học Gò Cổ LâmDi tích khảo cổ học Gò Cổ Lâm
Gò Cổ Lâm tọa lạc tại ấp Thanh Đông, xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đây là một khu di chỉ gồm nhiều phế tích, đền tháp đã được khai quật năm 1990 và được Bộ VHTT công nhận là di tích khảo cổ học tại Quyết định số 3211/QĐ -BT ngày 12/12/1994. 

Trên đỉnh gò có một ngôi chùa được xây dựng cách nay trên 100 năm, còn gọi là gò Chùa Cổ Lâm. Mặt gò hình chữ nhật rộng trên 5.000m2, cao khoảng 3m so với mặt ruộng. Phía Đông là con đường cao hơn mặt ruộng 0.5m, rộng 3m, dài 150m từ gò chạy thẳng đến "Bàu Vuông" nơi lấy đất để đắp gò.

gocolam.jpg

Toàn bộ kiến trúc chùa xây trên nền tháp chính, bằng gạch nằm theo trục Bắc Nam trên chiều dài 50m. Trong đợt khai quật năm 1990, đã thực hiện sáu hố chân tháp ký hiệu từ H1 đến H5 và M1. Trên mặt gò rải rác khắp nơi còn nhiều viên gạch của tháp đổ xuống, cùng nhiều phiếm đá màu xanh xám. Ở phía Tây gò, chạy theo hướng Bắc Nam là những vỉa gạch lộ lên mặt đất với những viên gạch có số đo 37 x 12 x 7 cm. Đó là những phế tích chân móng 5 ngôi tháp đã bị sụp đổ từ xa xưa. Các chân tháp từ H1 đến H5 đều có cạnh hình vuông.

    - Kiến trúc H1 : mỗi mặt tường dài 3.30m, dày trung bình 0.53m, sâu đến dáy 1,30m (tương ứng với khoảng 18 lớp gạch).

    - Kiến trúc H2 : nằm song song cách H1 là 2.30m, tương đối giống H1, mỗi cạnh 3.25, dày trung bình 0.40cm.

    - Kiến trúc H3 : cách H2 là 1.40m, mỗi cạnh dài 3.50m, về dày tường trung bình 0.80cm.

    - Kiến trúc H4 : cách H3 là 1.40cm, mỗi cạnh dài 4.00m, tường dày trung bình 0.80cm.

    - Kiến trúc H5 : cách H4 là 5m về phía Nam, đây là kiến trúc lớn hơn, mỗi cạnh 5.70m, bề dày tường trung bình từ 0.70 – 0.80m.

    - Kiến trúc M1 cách H1 là 2.07m (nằm về hướng Bắc của 5 hố) có hình gần giống mai rùa, chiều Đông – Tây 5.70m, chiều Bắc   – Nam 3.80m, ở giữa có một hố vuông 1 x 1m sâu 0.75m.

Rạch Tây Ninh chảy ra sông Vàm Cỏ Đông theo hướng Bắc Nam, chạy song song với lộ 7 Thanh Điền. Gò Cổ Lâm là di tích khảo cổ lớn nhất trong tổng số 11 di chỉ thuộc xã Thanh Điền, và là một trong những di tích có qui mô khá lớn đã phát hiện ở Tây Ninh. Các phế tích kiến trúc ở gò Cổ Lâm khá giống các kiến trúc gạch ở di tích Vườn Dầu , Miễu Bà và các di tích khác trong tỉnh. Căn cứ vào những di tích được khai quật và so sánh với một số công trình kiến trúc trên vùng đất Nam Bộ, về gạch, tượng đá, các tư liệu sản xuất … các nhà khảo cổ học đã khẳng định di tích khảo cổ học Gò Cổ Lâm có niên đại khoảng thế kỷ thứ VIII sau Công Nguyên.

15/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/gocolam.jpg
Tháp Chót MạtTháp Chót Mạt
Khu đền tháp được xây dựng trên gò đất đắp cao giữa cánh đồng, ngày nay thuộc ấp Xóm Mới, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Ngôi tháp mang tên Chót Mạt được xây dựng khoảng thế kỷ 8 đã được Bộ VHTT công nhận di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 937/QĐ-BT ngày 23/7/1993.   

Khu đền tháp được xây dựng trên gò đất đắp cao giữa cánh đồng, ngày nay thuộc ấp Xóm Mới, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Ngôi tháp mang tên Chót Mạt được xây dựng khoảng thế kỷ 8 đã được Bộ VHTT công nhận di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 937/QĐ-BT ngày 23/7/1993.  

thap_co_chot_mat_xa_tan_phong.jpg

Tháp Chót Mạt, được xây dựng bằng hai loại vật liệu chính là gạch khổ lớn cao 7 x 18 x 25cm và đá phiếm. Hình dáng của tháp gần giống như tháp của người Chăm ở các tỉnh miền Trung. Chân tháp rộng, các bức tường thẳng và dày, đỉnh tháp chọn, các vỉa gạch được xếp chồng khít lên nhau hầu như không có khe hở.

 Bình diện tháp hình vuông, mỗi cạnh 5m, tháp cao trên 10m, các mặt vách, tháp quay ra đúng hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Mặt chính hướng Đông, trước mặt là bàu nước "hình vuông" cửa tháp đã sụp đổ nguyên phần vách chỉ còn lại những tấm mi cửa, gạch vụn nằm ngổn ngang ở mặt Đông. Do bị sụp đổ nên đã mất phần chiều cao của tháp.

Ba mặt (Tây, Nam, Bắc) của tháp đều có cửa "giả" được xây nhô ra phía ngoài tường, trên bề mặt đều chạm nổi hình người, hoa lá cách điệu và những họa tiết trang trí tinh xảo, do bàn tay khéo léo của các nghệ nhân tạo nên.

Tháp Chót Mạt là một trong ba đền tháp còn lại ở Nam Bộ (cùng với tháp Bình Thạnh – Trảng Bàng còn tương đối nguyên vẹn và tháp Vĩnh Hưng – Bạc Liêu). Ngoài ra các đền tháp cổ còn lại ở Tây Ninh đã trở thành phế tích trải dài dọc lưu vực sông Vàm Cỏ Đông, là đối tượng để nghiên cứu và giới thiệu của một nền văn minh từng phát triển trong qúa khứ . Đó là nền văn minh ÓC EO.

15/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/thap_co_chot_mat_xa_tan_phong.jpg
Tháp Bình ThạnhTháp Bình Thạnh
Tháp Bình Thạnh nằm phía hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông, tọa lạc tại ấp Bình Phú, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh,là một trong những kiến trúc tháp cổ quý hiếm, tồn tại gần như nguyên vẹn, tiêu biểu cho kiến trúc thuộc hậu nền văn hóa ÓC EO, có niên đại xây dựng khoảng thế kỷ 8. 

Nền tháp hình vuông, tháp cao 10m, mỗi cạnh 5m, các cạnh được xây dựng đúng bốn hướng. Cửa chính mở về hướng Đông, trước mặt là một bàu "hình vuông", ba mặt Tây – Nam – Bắc đều có cửa "giả" được đắp nổi các hoa văn, trang trí tinh xảo.

thap_binh_thanh_huyen_trang.jpg

 Cửa chính Đông được xây nhô hẳn ra ngoài "khung" cửa là bốn phiếm đá nguyên được đục, đẽo, mài nhẳn các cạnh, một tấm đặt ngang phía dưới, hai bên khoét hai lỗ tròn để gắn con "quay" cánh cửa, tấm thứ tư đặt ngang phía trên tạo thành một khung cửa đá vững chắc, rộng 1m, cao 2m. Mặt ngoài tháp trên cửa chính phía Đông gắn trên "mi cửa" là một phiến đá lớn, hình chữ nhật cao 0.80 x 2 m chạm nổi hình hoa cúc cách điệu, hai vách bên cửa chính cũng chạm nổi hai mảng phù điêu. Do cửa chính và ba cửa "giả" đều được xây nhô ra ngoài, cùng với các mỏ típ trang trí được xây lập lại ở các phần thu nhỏ dần dần lên đỉnh tháp, tạo cho toàn bộ ngôi tháp có góc, cạnh, cộng thêm vào các bức phù điêu được đắp nổi quanh ngôi tháp nên đã tôn tạo cho toàn bộ công trình tháp là một kiến trúc vững chắc và công phu.

 Đây là ngôi tháp duy nhất còn nguyên vẹn ở Nam Bộ. Do vậy kiến trúc đền tháp Bình Thạnh đã trở thành hiếm hoi và quý giá, trong di sản kiến trúc của dân tộc.

Di tích kiến trúc tháp Bình Thạnh được Bộ VHTT công nhận là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 937/QĐ-BT ngày 23/7/19

15/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/thap_binh_thanh_huyen_trang.jpg
Căn cứ thanh niên cách mạng Rừng Rong Căn cứ thanh niên cách mạng Rừng Rong
Căn cứ thanh niên cách mạng Rừng Rong được tọa lạc tại ấp An Đước, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng. Là xã địa đầu của tỉnh Tây Ninh; giáp giới với huyện Củ Chi, cách TP.HCM 45km về hướng Tây Bắc.

An Tịnh xa xưa thuộc vùng rừng rậm hoang sơ của những loại cây cổ thụ và đầy thú dữ ẩn náu. Nhưng từ khi những con người nghèo khổ khắp nơi hội tụ về đây khai khoang khẩn đất lập nghiệp hình thành nên địa lý hành chính với tên thôn là Bình Tịnh. Năm 1836 thành lập Tổng Bình cách, nên địa danh Bình Tịnh đổi thành làng An Tịnh, thuộc huyên Thuận An, tỉnh Gia Định.

rungrong1.jpg

Khi giặc Pháp dựa vào lực lượng Đồng minh Anh – Ấn tiến đánh chiếm Sài Gòn 23/9/1945. Đến ngày 25/9/1945 quân dân An Tịnh đã thành lập lực lượng võ trang chi viện cho mặt trận Tham Lương.

Dưới ánh đuốc thiêng của nhân dân An Tịnh vào đêm 30 Tết năm Ất Dậu, nhằm ngày 1 tháng 2 năm 1946, lưu nhận cuộc Hội Thề của 27 người con thân yêu tiêu biểu cho ý nguyện lòng dân An Tịnh và ý nguyện của các chiến sĩ trước khi lên đường, hợp quân với lực lượng võ trang Chi đội 12 và lực lượng võ trang ở lại cùng với nhân dân bảo vệ xóm làng. Với 5 lời thề :

     • Độc lập hay chết ! Xin thề !

     • Chết tự do hơn sống nô lệ ! Xin thề !

     • Dù đầu râu tóc bạc vẫn còn kháng chiến ! Xin thề !

     • Dù phải huy sinh đời cha thì con cháu tiếp tục chiến đấu ! Xin thề !

     • Ai phản bội, đầu hàng phải bị xử tử ! Xin thề !

Hàng năm cứ vào đêm giao thừa và những ngày Tết Nguyên Đán là thời điểm họp mặt truyền thống của thanh niên cách mạng huyện Trảng Bàng.

Khu di tích căn cứ Thanh niên cách mạng Trảng Bàng tại Rừng Rong được khoanh vùng bảo vệ 15.000m2. Khởi công trùng tu vào ngày 21/6/2001 và Bộ VHTT công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 27/12/2001.

15/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/rungrong1.jpg
Di tích Gò ThápDi tích Gò Tháp
Theo những khám phá khảo cổ học, thì trong khoảng thế kỷ VII-VIII sau công nguyên, trên đất cũ Tây Ninh, họ đã dựng lên hàng trăm ngôi tháp bằng gạch, mà ngày nay chỉ còn thấy dưới dạng những phế tích được dân địa phương gọi là "gò gạch" hoặc "gò tháp" hoặc mang tên Việt ngữ, Hán Việt hoặc Khơme, Chăm…

Di tích những "gò tháp" này có diện phân bố khá rộng và thường quy tụ thành những quần thể có số lượng từ vài ba gò đến hơn chục gò. Về phía bắc, trong địa phận huyện Tân Biên có quần thể gò tháp ở Rùm, gồm ba nền kiến trúc; ở Chót Mạt có hai nền kiến trúc. Nơi đất huyện Châu Thành, trong địa phận xã Thanh Điền có quần thể hơn chục gò tháp nằm dọc theo bờ phải rạch Tây Ninh, trên chiều dài khoảng 3km theo hướng bắc-nam; ở xã Biên Giới có cụm gò tháp Đái Xoài…, tại ấp Phước Thanh xã Phước Vĩnh, có quần thể gò nằm thành dãy dài theo hướng bắc-nam, cách con sông Vịnh-một chi lưu của sông Vàm Cỏ Đông khoảng 400m. Trên địa bàn huyện Bến Cầu, trong xã Tiên Thuận có một quần thể gò nằm ở bờ nam sông Vàm Cỏ, ngày nay có cái tên gọi Gò Chốt Mỹ, gò Bến Đình. Gò Tràm Lơn, gò ấp A, ấp B… trong hai xã Long Khánh - Long Thuận cũng có những quần thể gồm từ 3 đến 8 gò tháp. Trong huyện Trảng Bàng, đặc biệt tại các xã Phước Chỉ, Phước Lưu có quần thể gò tháp khá lớn, với cái tên cụ thể như Prasat Ankun (nay gọi là Bình Thạnh), Prasat Don Kup, Prasat Don thơm, Prasat to, Prasat An số 1, Prasat An số 2, Prasat Ia Ey, Phước Hưng… Ngoài ra ở các huyện khác cũng có những gò tháp nằm rải rác ở nhiều nơi như Gò Cảo Trảo (xã Cẩm Giang), Bàu Vừng (xã Phước Trạch), gò Phước Thạnh (xã Phước Thạnh) thuộc huyện Gò Dầu, gò Hiệp Ninh (Hoà Thành)…

Nhìn chung các quần thể gò tháp đều được dựng trên thềm đất xám phù sa cổ vững chắc, gần bờ sông Vàm Cỏ Đông hoặc cạnh những con rạch, con sông nhỏ, có dòng chảy đổ ra sông lớn Vàm Cỏ Đông… Những quần thể "gò tháp" ấy, vào thời bấy giờ, đều là những nơi thường xuyên có các sinh hoạt thờ cúng của cư dân trong vùng, trong từng địa phương… Ngày nay, phần lớn đều đã đổ nát, hoang phế, chỉ có hai địa điểm còn lưu tồn cấu trúc tháp thờ xưa ấy tuy không được vẹn toàn là địa điểm Chót Mạt phía bắc và địa điểm Binh Phú mạn nam tỉnh Tây Ninh.

Tại địa điểm Chót Mạt, nay thuộc địa phận ấp Mới xã Tân Phong (Tân Biên) theo khảo sát của khảo cổ học, nguyên từ đầu, có hai ngôi tháp, một lớn, một nhỏ. Ngôi tháp lớn được xây dựng bằng gạch cỡ lớn, bình diện móng hình chữ nhật, dài 6m25, theo hướng đông tây, với nhiều đường bẻ góc lớn. Tháp cao khoảng 8-9 mét, thân cao khoảng 5m50. Bốn mặt xây tường bằng gạch; ba mặt tây, bắc, nam có cột giả, cửa giả; riêng mặt phía đông có cửa đi vào trong lòng tháp. Cửa tháp có khung bằng đá, gồm hai cột trụ, kè trên ngạch cửa ở phía dưới, đỡ tấm mi cửa ở phía trên. Hai bên cột trụ có hai trụ gạch. Phía trên mi cửa có trán cửa xây thành hình cung như móng ngựa. Trên mặt tường khoảng giữa các cột trụ giả có phù điêu chạm nổi hình thần giữ đền (Dva-rapala). Hình các vị thần đã bị hư hỏng nhiều, không còn nguyên vẹn. Trên mặt tường phía đông chỉ còn lại phần chân của một vị thần với chiếc lao chống xiên giữa hai chân; ở mặt tường phía tây có hình vị thần cầm vương trượng (sceptre) có các đài và một vị thần cầm chiếc rìu (?); ở mặt tường phía bắc có vị thầân cầm chiếc lao và vị thần khác cầm ngà voi, còn mặt tường phía nam chỉ thấy một vị thần cầm cây đinh ba ở tay phải. Ngoài ra, trên các cột trụ có chạm hình hoa lá; trên trán cửa, mi cửa cũng được chạm trổ cầu kỳ bằng đồ án hoa văn những giây chuỗi, hoa lá, chuỗi vòng, khung rèn… thuộc phong cách nghệ thuật thế kỷ thứ VIII của vùng đồng bằng Nam Bộ.

Trong phế tích của tháp nhỏ, trước đây có thu thập được một tượng thần Visnu bằng đá, đội mũ trụ, đứng vẹo hông, có khung hình vành móng ngựa đỡ phía sau, có bốn tay, hai tay trên cầm đĩa tròn hoặc bánh xe và con ốc, tay dưới bên trái cầm chuỳ, trên thân có chạm nếp trang phục và vạt túi được vẽ trên đùi phải. Ở tháp lớn cũng tìm thấy một bệ tượng bằng đồng thau. Hai sản phẩm tôn giáo này đều mang đặc trưng nghệ thuật thế kỷ thứ VIII sau công nguyên. Chúng đã cho biết rõ ràng địa điểm Chót Mạt, vào thời ấy là nơi có ngôi tháp thờ thần Visnu-một trong ba vị thần chính của của đạo Bà la môn.

Địa điểm thứ hai còn lưu tồn kiến trúc tháp có tên gọi là Prei Cetr hoặc Prasat Ankien, hoặc tháp Chàm, nay là Bình Thạnh. Tháp được khảo cổ học biết đến vào năm 1906. Nơi đây, từ ban đầu có dựng hai ngôi tháp trên một nền đất bằng phẳng hình chữ nhật, dài 70m, rộng 60m, theo hướng đông-tây, cao hơn mặt ruộng khoảng 1m lại có thêm một đền thờ phụ (gopura), cách tháp chính 40 mét trên đường trục chính đông tây, 2 bờ tường ở 2 bên đều thờ phụ và đường hào bao quanh có hình chữ nhật, nằm đúng hướng đông tây, có chiều dài 80m, chiều rộng 50m.

Tháp chính đã đổ nát từ lâu, đến năm 1938 chỉ còn bộ phận móng, cao khoảng 3 mét, nằm trong "gò nổi". Ngôi tháp thứ 2 nhỏ hơn, nằm về phía nam của tháp chính khoảng 15m (?). Sau khi phát hiện ra vào năm 1906, tháp này đã được tu sửa, gia cố vào năm 1938. Ngày nay, tháp còn bảo tồn tại chổ. Tháp xây dựng gạch cỡ khá lớn; móng có bình diện hình chữ nhật theo hướng đông tây, chiều dài khoảng 6m, chiều rộng khoảng 5m60 với nhiều đường bẻ góc. Tháp còn cao khoảng 7m, thân tháp thẳng đứng, tường có xây nhiều cột giả và ba cửa giả ở các mặt tây, nam và bắc. Riêng mặt tường phía đông có trổ cửa đi vào tháp. Cửa có bề ngang rộng 0m60, cao khoảng 1m76. Khung cửa làm bằng đá, gồm hai trụ dựng hai bên, một đà ngang đặt trên hai đầu trụ, có lổ ở hai đầu để tra cánh cửa. Trên đà có mi cửa, dưới đà có ngạch nằm ngang. Trên tường gian chính có ba khám thờ ăn sâu vào khoảng giữa ba vách tây, nam, bắc, có hình vòm cuốn, cách mặt nền khoảng 1 mét.

Trên mặt tường phía ngoài, ở hai bên cửa chính có xây phù điêu nổi hình hai bệ thờ chồng cao và trên mặt bệ thờ cao nhất có phù điêu hình người ngồi bên trong khám có hình vòm cuốn. Phía ngoài khám có hình phù điêu chạm hình ngọn lửa hoặc hình tia mặt trời cách điệu. Ngoài ra, trên móng nổi và trên các góc bề mặt vòm tháp có trang trí những khám hình vòm có hình người bán thân ở bên trong.

Tháp Bình Thạnh, hiện còn nguyên vẹn nhất, về bố cục, cấu trúc cũng như hình dáng khá giống với tháp Chót Mạt. Chúng là loại hình kiến trúc tôn giáo phổ biến vào thời ấy. Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, di tích nền móng của loại kiến trúc này đã được phát hiện ở nhiều nơi. Đó là di tích "gò tháp" ở Vườn Dầu, ở Đái Xoài (Châu Thành), ở Rùm (Tân Biên), ở Tiên Thuận (Bến Cầu), ở Bùng Binh-Đôn Thuận, ở Gò Miễu (Trảng Bàng)… Di tích của những "gò tháp" này có phần đơn giản hơn, ít có đường bẻ góc. Đặc biệt, ở gò Cổ Lâm Tự (Châu Thành), kích thướt nền móng còn nhỏ hơn nữa và được xây thành hàng năm kế tiếp nhau như là những miếu nhỏ hoặc am kín.

Trong các tháp, đền miếu, sau khi xây cất xong, cư dân hồi bấy giờ còn dựng các tượng thần, vật thiêng, thậm chí có khi còn đem chôn cất dưới móng kiến trúc. Các vị thần và vật thiêng được thờ hầu như không có định chế chặt chẽ và thống nhất. Nếu lần theo những phát hiện của khảo cổ học thì thấy trong quần thể "gò tháp" Thanh Điền có số lượng tượng thờ vật thiêng nhiều nhất. Nơi đây, ngoài tượng thần Visnu với số lượng khá nhiều, còn có tượng Uma, Mahisvara, tượng nam thần, nữ thần, tượng linga, và các vật thiêng như bệ có dấu thiêng, bệ thờ, máng nước thiêng, bàn nghiền, tượng chim cùng bệ có minh văn cổ. Trong cụm "gò tháp" ở miền Tiên Thuận (Bến Cầu) có tượng thần Surya, thần Laksmi, bệ yoni… Ở các xã Phước Chỉ, Bình Thạnh (Trảng Bàng) trong các tháp số lượng tượng cũng khá nhiều dạng. Có tượng thần Laksmi ở Rừng Dầu hoặc Truông Dầu, có tượng thần Visnu trong gò tháp Prasat Don Thom, tượng nam thần và tượng linga ở Phước Hưng; tượng rắn thần Naga bằng đồng ở PreiCek (Bình Thạnh); có linga…, yoni ở Gò Miễu… Trong một vài "gò tháp" nằm riêng lẻ cũng đều thấy có tượng. Nhìn chung cư dân ở Tây Ninh thời ấy tôn thờ cả nam thần và nữ thần. Nam thần có Visnu, Siva, Surya; nữ thần có Laksmi và Uma Mahisvara. Trong đó, Visnu và Siva được thờ cúng nhiều nhất.

Thần Visnu có mặt ở các gò tháp Cổ Lâm Tự, Prasat Don Thom Prei Cek, Thái Hiệp Thành, gò Cao Sơn Tự Quốc Hưng. Những pho tượng thần Visnu thời bấy giờ ở Tây Ninh đều được tạc khá đẹp. Pho tượng ở gò Tháp Chót Mạt làm bằng sa thạch cao khoảng 55cm là tượng Visnu đội mũ trụ, đứng thẳng hơi vẹo hông, phía sau có vòng cung đỡ, mặt phương phi, mắt mở tự nhiên, mũi thẳng, mồm ngậm tự nhiên, ngực nở nang, thân vạm vỡ, đùi to khoẻ, đoạn cổ chân và bệ thờ bị mất, có 4 tay với hai tay trên cầm con ốc và bánh xe ( hoặc cái đĩa ), tay trái dưới cầm chày, tay phải dưới đã mất. Pho tượng này được coi là tác phẩm nghệ thuật thuộc nửa sau thế kỷ VIII.

Tượng thần Visnu ở gò tháp Prasat Don Thuân gồm có 3 chiều cao 0m30-0m49 làm bằng phiên thạch hoặc phiến sa thạch. Chúng đều là loại tượng Visnu đội mũ trụ, có giá đỡ bằng thanh ngang sau đầu, thanh đứng ở hai tay, mặt đầy đặn, thậm chí bầu bĩnh, mắt tự nhiên, mũi sống cao, mồm ngậm bình thường, ngực nở, chân đứng thẳng, hai bàn chân đều thẳng về phía trước, dáng nghiêm trang. Những pho tượng thần này đều là sản phẩm được tạc vào thế kỷ VII hoặc VIII sau công nguyên.

 Thần Siva cũng là vị thần được thờ khá phổ biến, thường được thể hiện bởi linh vật linga, mukhalinga hoặc linga-yoni. Những linh vật có mặt ở nhiều nơi trong quần thể "gò tháp" Thanh Điền, Tiên Thuận, Phước Hưng, Bùng binh... Vị thần này được tôn thờ nhiều hình tượng khác nhau. Nếu ở dạng nhân thần thường có vẽ chạm con mắt thứ ba ở giữa trán, biểu trưng cho sự thông tuệ của thần và lối phục sức đầu thành búi tó dựng đứng mà từ ngữ khoa học gọi là mukuta. Song dạng phổ biến nhiều hơn là hình linh vật như linga hoặc mukhalinga hoặc linga-yoni.

Thần Surya là vị thần thứ 3 được cư dân nơi đây thờ phụng. Cho đến nay, tượng vị thần này chỉ mới thấy ở gò tháp Bến Đình, thuộc xã Tiên Thuận ( Bến Cầu); và ở Thái Hiệp Thành ( Hoà Thành ). Đây là vị thần được Thần Mặt Trời, vốn gốc gác có thể từ tín ngưỡng của các dân tộc vùng Iran- Batư. Hình ảnh vị thần này thường có màu tóc sáng, nước da màu đồng, trang phục như một chiến binh Iran, với đôi mắt đỏ, có hai hoặc bốn tay; hai tay trên cầm bông hoa, có vầng hào quang toả sáng sau lưng, thần đi đến mặt trời trên chiếc xe chỉ có một bánh được kéo bởi bảy con ngựa (hoặc một con ngựa bảy đầu), điều khiển bởi Aruma là con trai của thần chim Garuda.

Tượng thần Surya ở Tây Ninh và châu thổ sông Cửu Long (tại núi Ba Thê và tại gò Tháp Mười) có phong cách riêng, thể hiện ở đầu đội mũ trụ hình tròn hoặc đa giác) tai đeo bông, cổ đeo hạt chuỗi, mang áo thụng đến đầu gối, chân đi ủng.

Pho tượng thần Surya ở Tiên Thuận (Bến Cầu) đã mất phần cẳng và chân đế, hiện còn cao khoảng 0m39, ở tư thế đứng vẹo hông, đầu đội mũ trụ có gờ ở mép, tóc cuộn thành nhiều cụm đều nhau; sau đầu có vầng hào quang hình bầu dục có vạch thành tia tỏa ra xung quanh; mặt đầy đặn, bầu bĩnh, cân đối, dái tai dài có đeo vòng khuyên kiểu vòng hở, buông thõng trên vai, thân khoác áo thụng, có dây lưng được thể hiện bởi hai đường vạch song song. Hai cánh tay ở tư thế khép vào ngực; bàn tay đều gãy chỉ còn lại dấu sẹo tròn ở vị trí hai bên vai, tựa như trong tư thế cầm hai bông sen của tượng thần Surya ở Ba Thê (An Giang).

Pho tượng thần Surya ở Thái Hiệp Thành (Hòa Thành-Tây Ninh) cũng bị gãy mất phần cẳng chân và một cánh tay, hiện còn cao khoảng 0m515. Thần có dáng hình vạm vỡ, đầu đội mũ trụ, hơi rộng ở phía trên, bên dưới có vành vương miệng hẹp, gắn 10 viên ngọc nằm ở khoảng cách giữa 3 đóa hoa vàng . Mặt của thần vuông vắn, kiên nghị, mũi thẳng, mắt mở, gò má nhô cao, môi khép tự nhiên, sát trên môi có đường ria mép nhỏ đầy vẻ quý phái. Thân khoác áo thụng dài đến đầu gối, có thắt đai lưng bằng hai giải nổi tròn, cột ở khoảng trên rốn và buôn thả tự do tạo thành hình tựa như vạt áo xòe hình quạt với đường xếp tự nhiên. Trên cổ có đeo vòng kiềng khá rộng bản, ria ngoài có đường dăng tên hình tam giác nối tiếp nhau, tựa như tia mặt trời ở giữa có tấm lắc "hình thang".

Những pho tượng thần Surya ở Tây Ninh cũng như ở đồng bằng châu thổ sông Cửu Long được coi là sản phẩm nghệ thuật tôn giáo thời thế kỷ thứ VII-VIII, thậm chí có thể vào thế kỷ thứ VI.

Cùng với việc thờ Nam thần, bấy giờ, cư dân còn thờ Nữ thần. Trong đó, có thần Laksmi là vợ của thần Visnu và Uma-mahisvara là vợ của thần Siva.

 Nữ thần Laksmi có mặt ở Tiên Thuận, Rừng Dâu, được quan niệm là thần của sự thịnh vượng, của sắc đẹp. Thần được thể hiện một tay cầm một bông sen và một tay cầm trái cây ... Tượng thần Laksmi ở Tiên Thuận được tạc trong tư thế đứng vẹo hông khá rõ, cao khoảng 0m95. Đầu đội mũ trụ; mặt tươi cười, thân hình đẩy đà, bầu vú, những nếp da hằng trên thân và nếp áo trên hông được thể hiện bởi những đường vạch đơn giản, riêng phần trên của xà rông có hình núm thắt lưng được chạm hơi nổi, trên thân không mang đồ trang sức .

Nữ thần Uma makisvara (cũng có tên là Uma mahisasuri hoặc Uma mahissasuradami) có nghĩa là thần Uma chiến thắng quỷ trâu. Vị thần này tượng trưng cho tri thức vĩnh hằng, cho sức mạnh sáng tạo, và sự yên bình trong đêm tối . ở tượng này thường có chạm hình đầu sừng của quỷ trâu ở mặt trước bệ tượng, phía dưới chân thần Uma, vật tuỳ thân của vị thần này là thanh kiếm và tấm mộc.

 Pho tượng ở Tiên Thuận (Bến Cầu) làm bằng sa thạch đen, đã mất phần chân dưới, hiên còn cao khoảng 25cm. Thần có dáng thấp lùn, mập mạp, có giá đỡ hình vành móng ngựa ở sau lưng.

Pho tượng thứ hai ở An Thành (Gò Dầu) cao khoảng 58cm , đầu đội mũ trụ có đường gờ nổi ở biên mũ; mặt đầy đặn, hiền từ, mắt mở hình hạnh nhân, dái tai dài đến vai đính vào cổ, bộ ngực hơi nở; trên thân khoác áo dài với đường nếp thẳng như phục sức của thần Visnu, song viền cổ lại giống áo samghati cua nhà sư. Vật tùy thân của thần giống như thần Visnu, tay phải phía trên cầm vật hình dĩa; tay phải phía dưới nâng quả cau, tay trái phia dưới cầm cái chùy, mặt trước bệ tượng có chạm hình đầu-sừng con quỷ trâu.

Những pho tượng Nam thần, Nữ thần ở đây đều bắt nguồn từ nghệ thuật tạc tượng tôn giáo cổ ấn Độ. Tuy nhiên, chúng đều là tượng tròn, mang nhiều dáng vẻ tự nhiên, gần gũi với hiện thực; phục sức giản dị, thân hình vạm vỡ, khoẻ mạnh, và thường tạc thêm khung hình vành móng ngựa làm giá đỡ phía sau tượng. Đấy là những sản phẩm, mà hầu như cho đến nay, thường chỉ phát hiện ở đất Tây Ninh và vùng ven châu thổ sông Cửu Long. Chắc chắc chúng la những tác phẩm điêu khắc do các nghệ nhân ở trung tâm tạc tượng ở vùng này làm ra .

Những nghệ nhân thời đó hẳn đã có hiểu biết khá sâu sắc về thần điện, về nghệ thuật tôn giáo ấn Độ. Tuy vậy, các vị thần được họ tuyển định và tạo tác nên hầu như đều mang sắc thái riêng rõ nét. Chúng liên hợp thành một thần diện mới, chỉ gồm vài vị thần của ấn Độ giáo. Trong đó, Visnu-Siva là hai vị thần chính; ngoài ra có thêm thần Surya, Laksmi và Uma-Mahisvara. Những vị thần này, theo quan niệm chung thời ấy, là biểu tượng của sự sáng tạo lớn lao, sự thông tụê mọi trí thức, của sức mạnh vô song, của vẽ đẹp hòan mỹ và của hòa bình, thịnh vượng.Đấy là những giá trị tinh thần, tư tưởng cao nhất của ấn Độ Giáo mà cư dân đương thời ở đất Tây Ninh- châu thổ sông Cửu Long tiếp thu, với hoài vọng vươn tới trong cuộc sống tinh thần và vật chất.

Họ tạc nhiều tượng thần, dựng tháp thờ khắp nơi, mà ngày nay còn lại di tích rõ ràng đã cho thấy những nổ lực lớn lao của họ trong quá trình phấn đấu vươn tới ước vọng cao đẹp đó; mặt khác, nó cũng thể hiện đời sống tinh thần, vật chất, trình độ khoa học kỹ thuật, các hoạt động kinh tế-xã hội đã phát triển hơn thời trước rất nhiều.

Vào thời bấy giờ "nơi nơi có đền tháp, chốn chốn có thần linh", tôn giáo Balamôn địa phương phát triển "thịnh vượng". Tầng lớp tăng lữ, tu sĩ Balamôn giữ vai trò rường cột trong xã hội. Những bi kí thời ấy tìm thấy ở châu thổ sông Cửu Long (Ba Thê-Tháp Mười-Phú Vinh) cho biết khá cụ thể, về con người và cuộc sống tại chỗ, mà trong đó hẳn có bộ phận cư dân trên đất Tây Ninh. Trên những bi kí này có thể rút ra những thông tin về năm tháng hoặc tên của vị vua trị vì, tước vị và tên của những người quyên cúng; tên của vị thần, những tên của dân chúng hiến đất để cung phụng cho đến những khoảng liệt kê giá cả chi cho người đã nhượng lại đất cho đền, vị trí, phạm vi, sản lượng ruộng lúa cúng hiến, tên của những nô lệ được hiến với chỉ dẫn nghĩa vụ của họ; liệt kê vật phẩm được cấp cho các thần; liệt kê các loại đất khác giao cho các đền như các loại vườn cây trái, vườn cây cảnh; cây rau;... danh mục các đồ vật quý giá cúng cho các đền...

Từ nội dung các bi kí, có thể thấy rõ của cải cúng cho các đền, tài sản của các tăng lữ, tu sĩ Bàlamôn gần như chiếm phần lớn của toàn xã hội thời ấy. Trong đó, điền trang và nô lệ là tài vật quan trọng nhất. Điền trang lúc bấy giờ có quy mô rộng lớn, có nhiều dạng, nhiều phương thức kinh doanh khác nhau. Nếu theo phận sự của đông đảo nô lệ thì ngoài các ruộng trồng lúa, còn có vườn cây ăn trái, cây rau, cây cảnh, những ruộng mía, vườn cau, vườn dừa, vườn chuối, những đất chăn trâu thả bò, nuôi voi... Ngoài ra, người nô lệ còn làm nhiều công việc khác như đào hào, khai thác quặng mỏ, đúc tượng, tạc tượng, chạm trổ đồ trang sức, dệt vải, nấu nướng, và đảm đương cả việc hát múa, biểu diễn nhạc cụ... nghĩa là làm mọi việc theo yêu cầu của tầng lớp tăng lữ thống trị...

Vào thế kỷ thứ IX về sau với sự hình thành vương quốc Angco-Campuchia trên vùng trung lưu và vùng biển hồ sông Mêkông, vùng đồng bằng Nam bộ bị biến thành vùng tranh giành ảnh hưởng của các thế lực chính trị, các vương quốc lớn bấy giờ (Angco – Chămpa – Java), cộng đồng cư dân, nơi vùng đất một thời phát triển phồn vinh về kinh tế, đặc sắc và rực rỡ về văn hóa, phải lưu tán đến vùng đất trong nội địa hoặc phải dời đến những hải đảo xa xôi. Địa bàn Tây Ninh cũng là "vùng đệm" giữa các quốc gia cổ đại, nên cũng không tránh khỏi những cảnh tranh chấp của các quốc gia hay các tiểu quốc gia diễn ra trên vùng đất này. Và có lẽ vì vậy, cư dân ở đây cũng phải lưu tán đến những vùng đất khác... Những di tích của những cư dân tại chỗ vào thời này trên đất Tây Ninh, cho đến nay rất hiếm thấy. Một đứt đoạn thứ hai của văn hóa lịch sử diễn ra ở đây và kéo dài nhiều thế kỷ cho đến khi xuất hiện các cộng đồng dân cư mới, tồn tại và phát triển liên tục trên đất Tây Ninh cho đến tận ngày nay.

15/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Núi Bà Đen huyền thoạiNúi Bà Đen huyền thoại
Núi Bà Đen - một ngọn núi cao và đẹp nằm giữa vùng đồng bằng Nam Bộ, cách Thị xã Tây Ninh 11 km về hướng Đông Bắc. Núi Bà Đen là món quà độc đáo mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người.

Núi Bà Tây Ninh ngày nay là một trong những điểm du lịch nổi tiếng của cả nước. Núi Bà Đen có một sức hấp dẫn con người kỳ lạ như vậy bởi ngoài cảnh đẹp thiên nhiên với núi non hùng vĩ, Núi Bà còn chứa đựng nhiều huyền thọai, sự tích.

nui ba 19 lon_1319015470546.jpg

Còn biết bao nhiêu truyền thuyết chưa khai thác hết ở khu di tích Lịch sử Núi Bà Đen. Động Thanh Long có thể hiểu ngay được cái tên vì những dây thanh long mọc xanh tốt. Hang Gió là nơi khách có thể dừng chân tận hưởng ngọn gió kỳ bí từ đâu đó thổi về làm mát rượi bước chân hành hương. Hang Hổ, nơi người ta truyền tụng rằng ngày xưa là nơi trú ẩn của một vị chúa sơn lâm sống thành tinh, nhưng chưa hại một ai. Trên đỉnh Núi Bà, nơi hiện đang đặt Trạm phát sóng truyền hình Tây Ninh cũng còn là một nơi chưa khai thác hết những chuyện đã xảy ra trong những năm dài kháng chiến, nơi ta và địch giành giật từng ngày. Thời gian rồi sẽ xoá nhoà tất cả. Nếu được tổ chức, thì chuyện đỉnh núi cũng là một kho để khai thác.

Hàng năm, cứ đến ngày 14 tháng giêng âm lịch, Huyện ủy Hòa Thành đều tổ chức trọng thể lễ họp mặt truyền thống Động Kim Quang để tưởng niệm những người đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Những người đến đây, cả thế hệ ngày trước và ngày nay đã dành phút giây tưởng niệm để vẳng nghe tiếng vọng của hồn thiêng sông núi, kính cẩn nghiêng mình trước vong linh của những người đã mất từ Động Kim Quang để quyết tử bảo vệ từng tấc đất quê hương, làm nên huyền thọai lịch sử cho muôn đời sau.

Cứ mỗi độ xuân về, cả triệu du khánh từ mọi miền đất nước lại tụ về đây để  tham dự Hội xuân Núi Bà, thong dong bước trên con đường mát rượi bóng cây và tươi những sắc hoa. Được trôi bồng bềnh trên những ca bin cáp treo để lên viếng Chùa Bà, được đắm mình với những huyền thoại phong phú của Núi Bà gắn liền với những cái tên: Động Kim quang, Chùa Hang, Hang Gió, Động Thanh Long…

Nơi đỉnh núi ngày xưa địch dùng làm một căn cứ thông tin, khống chế vùng giải phóng của ta, nay đã khác xưa. Tương lai, rồi sẽ có một con đường lên đỉnh núi này, và rất có thể có thêm đường cáp treo lên đỉnh núi để đưa du khách lên đây, tận hưởng không khí trong lành giữa khoảng không bao la. Nhưng ngay bây giờ đỉnh núi này cũng đã được sử dụng cho một công trình đáp ứng nhu cầu đời sống văn hoá của người Tây Ninh. Tận dụng lợi thế chiều cao Đài Phát  thanh truyền hình Tây Ninh đã đưa hệ thống phát hình lên đây. Một ăng ten cao 77 mét, nếu tính cả chiều cao của núi, thì ăng ten phát sóng của Đài Truyền hình Tây Ninh cao hơn 1000 mét. Trước đây công suất phát sóng là 1000KWx2, nay công suất đã được nâng lên 1000 KWx5. Nhờ thế mà Tây Ninh bây giờ không còn vùng lõm của hệ thống phát hình. Khắp nơi trong tỉnh, kể cả một số tỉnh lân cận cũng có thể xem được các chương trình của truyền hình Tây Ninh. Cũng trên đỉnh Núi Bà Đen còn có máy phát sóng phát thanh FM 20 KW - với chương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam phát 24/24 giờ trong ngày. Ngoài ra, còn có thêm hệ thống tiếp sóng Đài Truyền hình Việt Nam kênh VTV1.

Ngày xưa nơi đỉnh núi, kẻ địch lợi dụng để xây dựng hệ thống thông tin nhằm đánh phá cách mạng, còn hôm nay, đỉnh núi trở thành nơi mang đến cho những người dân có được những món ăn tinh thần qua hệ thống Phát thanh truyền hình. Người Tây Ninh bây giờ hướng về núi không chỉ để tự hào về một mảnh đất một thời anh dũng, mà bây giờ còn hướng về núi để đón chờ những Thông tin thời sự, những chương trình ca nhạc, chiếu phim… là những thứ không thể thiếu của mỗi người trong xã hội ngày càng tiến bộ hiện nay.

Ba mươi sáu năm, kể từ ngày giải phóng Núi Bà Đen, hôm nay nhắc lại để nhớ những ngày chiến đấu giữ núi oanh liệt xưa của những dũng sĩ núi. Đứng trên đỉnh núi Bà Đen hôm nay, những người từng một thời chiến đấu ở đây không khỏi bồi hồi nhớ đến ngày xưa, ngày giải phóng Núi Bà Đen 6-1-1975.

Và cũng từ trên đỉnh núi thấy được vóc dáng gấm hoa của Tây Ninh hôm nay trên con đường đổi mới, vươn tới phồn thịnh.

15/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/nui ba 19 lon_1319015470546.jpg
Hiệp Long Cổ TựHiệp Long Cổ Tự
Hiệp Long Cổ Tự là một ngôi chùa cổ , toạ lạc tại phường III, Thị xã Tây Ninh, cạnh quốc lộ 22 B, nằm trên một gò đất cao, có khuôn viên gần 10.000 m2, nhiều cây cổ thụ.

Mặt chính quay về hướng Đông Nam, kiến trúc có 3 gian, mặt tiền chạy suốt 3 lớp nhà được xây dựng bằng gạch, mái lợp ngói âm dương, cột gỗ tròn. Nơi đây còn lưu giữ nhiều bức đại tự và câu đối, sơn son thếp vàng, chạm khắc tinh xảo. Nhiều pho tượng cổ với đồ thờ tự quý hiếm.

Phật giáo Tây Ninh có 2 phái: phái Cổ Môn Sơn và Lục Hoà Tăng (Phật giáo tiểu thừa Nam Tông). Hiệp Long Cổ tự thuộc phái Lục Hoà Tăng được xây dựng vào năm 1889.

Chùa được tu bổ thường xuyên, nhưng vẫn giữ được kiến trúc cổ, hàng năm thu hút đông đảo khách thập phương đến lễ bái và vãng cảnh.

15/01/2015 11:00 SAĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Địa đạo Lợi ThuậnĐịa đạo Lợi Thuận
Địa đạo Lợi Thuận thuộc ấp Thuận Hòa, xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Được Bộ VHTT công nhận là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số : 1430/QĐ-BT ngày 12/10/1993.

Địa đạo Lợi Thuận được khởi công xây dựng vào tháng 7/1963, cứ ba người đào một hố sâu 3m (tròn như giếng). Khoảng cách giữa hai hố là 10m. Đào hang mái vòm cao 1.30m, rộng 0.80m. Trên tuyến địa đạo cứ 30m có một công sự chiến đấu cá nhân và xen kẽ có công sự chiến đấu cho một tổ được đắp đất cùng tre gỗ kiểu hình tam giác cao 0.60m, hai đầu địa đạo có giao thông hào chạy ra các hướng phòng thủ chủ yếu của địa đạo. Đến tháng 9/1964, tổng chiều dài địa đạo 4 km với nhiều ụ chiến đấu và hàng ngàn mét giao thông hào.

loi_thuan.jpg 

Địa đạo Lợi Thuận là kết quả của sự sáng tạo, sự đúc kết của các loại hình công sự từ cổ chí kim. Thời phong kiến có tường cao hào sâu. Thời Pháp thuộc có lô cốt, Mỹ- ngụy có công sự bao cát và công sự đúc sẳn bê tông cốt thép … còn cuộc chiến tranh cách mạng của ta, trong đường lối chiến tranh nhân dân hàng loạt địa đạo được xây dựng, địa đạo Lợi Thuận là một điển hình, là chiến tích sống động về thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân xã Lợi Thuận – Bến Cầu đến ngày cách mạng thành công. Xã Lợi Thuận được danh dự đón nhận danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

14/01/2015 5:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/loi_thuan.jpg
Địa đạo An ThớiĐịa đạo An Thới
An Thới là một trong 8 ấp thuộc xã An Tịnh anh hùng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Nơi đây có địa đạo chiến đấu của một xã địa đầu của tỉnh trong kháng chiến chống Mỹ. Được Bộ VHTT công nhận là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số : 937/QĐ-BT ngày 23/7/1993.

Nằm trên địa đầu của tỉnh, ngay trên quốc lộ 1 (nay là đường Xuyên Á). Vì thế tất cả cuộc càn lớn nhỏ vào căn cứ Bắc Tây Ninh đều phải qua mảnh đất kiên cường này.

dia_dao_an_thoi_.jpg

Do vậy, An Thới đã trở thành điểm nóng, có vị trí chiến lược, là vành đai trắng, ở trong thế giằng co quyết liệt giữa ta và địch. Ta muốn bám trụ chiến đấu thì phải ở dưới lòng đất, phải đào địa đạo ngầm trong lòng đất, để ém quân, tích trữ lương thực, vũ khí và bám trụ chiến đấu. Địa đạo được đào từ 1961 đến đầu năm 1965 và từ 1966 – 1968, địa đạo được phát triển dài thêm; kết hợp với địa hình cây cối trong ấp, hầm bí mật, ụ chiến đấu, giao thông hào, hầm chông, bãi mìn để đánh địch bảo vệ địa đạo.

Địa đạo An Thới là một địa đạo chiến đấu kiên cường, bởi chính địa đạo là nhân chứng của lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước, tình đoàn kết quân dân, bởi chiến tranh nhân dân là sáng tạo của nghệ thuật chiến tranh. Từ hầm chông, tầm vông vạt nhọn, giàn phun phóng lựu đạn, ong vò vẽ … Đến địa đạo là hình thức phát triển nghệ thuật chiến tranh rất đặc biệt, rất Việt Nam. Địa đạo chiến đấu – pháo đài "Bót Việt cộng" ở ngay cửa ngõ căn cứ Bắc Tây Ninh ở vùng "Tam giác sắt", đã kiên cường chống giặc góp phần xây nên xã An Tịnh anh hùng, của một huyện Trảng Bàng hai lần anh hùng.

14/01/2015 5:00 CHĐã ban hành/PublishingImages/2015-01/dia_dao_an_thoi.jpg
1 - 30Next
Thông tin quảng bá
  ​ ​ ​
​​​
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TÂY NINH
Số giấy phép: 87/GP-TTĐT, Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 27/4/2010​ (hiệu lực đến ngày 26/04/2017).
Ban Biên tập website Tây Ninh, Email: toweb@tayninh.gov.vn.
Cơ quan quản lý: Sở Thông tin và Truyền thông Tây Ninh.
Địa chỉ: 006 đường Trần Quốc Toản, Phường 2, Thành phố Tây Ninh.
Điện thoại: 066.3828888