06/01/2026
Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạtPhí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt
Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026, thay thế Nghị định số 53/2020/NĐ-CP. Nghị định mới nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính trong bảo vệ môi trường, nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân xả thải, đồng thời bảo đảm tính đồng bộ với Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các luật có liên quan.
Việc ban hành Nghị định mới về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc hoàn thiện công cụ kinh tế về bảo vệ môi trường, nâng cao ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động xả thải, đồng thời tạo nguồn lực tài chính phục vụ công tác bảo vệ môi trường. Đây là bước quan trọng hướng tới phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên nước trong thời gian tới.
Theo Nghị định, đối tượng chịu phí gồm nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt xả ra môi trường, trừ các trường hợp đã nộp giá dịch vụ thoát nước và các trường hợp được miễn phí theo quy định. Nước thải công nghiệp là toàn bộ nước thải phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; trong khi đó, nước thải sinh hoạt bao gồm nước thải của hộ gia đình, cá nhân và một số loại hình kinh doanh, dịch vụ được quản lý như nước thải sinh hoạt.
Nghị định cũng quy định rõ tổ chức thu phí, trong đó cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cấp tỉnh, cấp xã thực hiện thu phí đối với nước thải công nghiệp; tổ chức cung cấp nước sạch thực hiện thu phí đối với nước thải sinh hoạt thông qua hóa đơn tiền nước.
Một điểm đáng chú ý của Nghị định là việc quy định rõ 10 trường hợp được miễn phí, như: nước xả từ nhà máy thủy điện không gây ô nhiễm; nước biển dùng sản xuất muối; nước thải sinh hoạt tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; nước mưa tự nhiên chảy tràn; nước thải từ nuôi trồng thủy sản; nước thải được tái sử dụng theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường… Qua đó, bảo đảm tính nhân văn, phù hợp thực tiễn và khuyến khích tái sử dụng tài nguyên nước.
Đối với nước thải sinh hoạt, mức phí được xác định bằng 10% giá bán 01 m³ nước sạch (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng). Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định mức phí cao hơn trong trường hợp cần thiết, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương.
Đối với nước thải công nghiệp, Nghị định quy định hai phương thức tính phí: tính theo lưu lượng nước thải hoặc tính theo hàm lượng các thông số ô nhiễm như COD, TSS, thủy ngân, chì, asen, cadimi. Cách tính này gắn trực tiếp mức phí với mức độ ô nhiễm, góp phần khuyến khích các cơ sở đầu tư công nghệ xử lý nước thải, giảm phát sinh chất ô nhiễm ra môi trường.
Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được nộp đầy đủ vào ngân sách nhà nước theo quy định. Riêng đối với phí thu từ nước thải sinh hoạt, tổ chức cung cấp nước sạch được để lại tối đa 10% để trang trải chi phí thu phí. Việc khai, nộp, quyết toán phí được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, bảo đảm công khai, minh bạch./.
Hoàng Khanh