Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChương Trình, Đề Tài Khoa Học

 
Chương Trình, Đề Tài Khoa Học - Danh mục các chương trình, đề tài
 
Ngày 09/5/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1042/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018.
 
Ngày 19/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3098/QĐ-UBND phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019, với 02 đề tài cụ thể như sau:
 
Ngày 10/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2983/QĐ-UBND công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo, trong đó
 
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2868/QĐ-UBND triển khai đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh về “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong ...
 
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2867/QĐ-UBND công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium ...
 
​Ngày 10/10/2017, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 2344/QĐ-UBND phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018 Quyết định phê duyệt danh ...
 
Nhằm xây dựng nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) năm 2018 phục vụ thiết thực mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, giải quyết những vấn đề cấp thiết của ngành và địa phương, nâng cao ...
 
Ngày 21 tháng 11 năm 2016 của UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2017 với 05 Đề tài thuộc 03 Lĩnh vực về: Khoa học Nông nghiệp; ...
 
Danh mục đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015
 
Danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ được phê duyệt năm 2014
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
UBND tỉnh công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018UBND tỉnh công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018

Ngày 09/5/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1042/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018.

Theo nội dung Quyết định, toàn tỉnh có tất cả 91 sáng kiến được đề xuất công nhận sáng kiến cấp tỉnh. Sau khi được hội đồng sáng kiến cấp tỉnh (gọi tắt là Hội đồng) xem xét, đánh giá và đưa ra kết quả đánh giá gồm: 01 sáng kiến đạt loại A (Xuất sắc), 83 sáng kiến đạt loại B (Khá), 04 sáng kiến đạt loại C (Trung bình) và 03 sáng kiến không đạt yêu cầu công nhận là sáng kiến cấp tỉnh.

Được biết, sáng kiến duy nhất đạt loại A là về "Tham mưu, đề xuất UBND tỉnh tổ chức, phối hợp tổ chức thực hiện việc ứng dụng mạng xã hội Zalo trong tiếp nhận phản ánh kiến nghị và giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Tây Ninh". Đây là sáng kiến được đánh giá cao và đang được triển khai ngày càng mạnh mẽ, góp phần cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh.

Xem danh sách công nhận sáng kiến tại đây. Cong nhan SKCT 2018_Danh sach.doc

                                                                                                     Ngọc Hà

10/05/2019 3:00 CHĐã ban hànhTin loại 4
Triển khai đề tài “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.Triển khai đề tài “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2868/QĐ-UBND triển khai đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh về “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.

Theo nội dung quyết định, cơ quan chủ trì đề tài là Trung tâm nghiên cứu ong Miền Nam được thực hiện bởi Chủ nhiệm đề tài là KS Nguyễn Anh Khoa trong 24 tháng.

Được biết đề tài được thực hiện với mục tiêu  xây dựng và phát triển nghề nuôi ong  tại Tây Ninh theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần tạo việc làm, tăng nguồn thu nhập cho người dân, đồng thời tạo ra nguồn sản phẩm có giá trị kinh tế cao để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và hướng tới xuất khẩu.

Đối tượng nghiên cứu của loài ong mật khá phổ biến hiện nay gồm: ong ngoại (Apis mellifera), ong nội (Apis cerana) và ong dú (Trigona sp). Đồng thời, Đề tài còn xây dựng  02 quy trình kỹ thuật  nuôi ong và phòng trị bệnh cho 02 loài ong mật là ong ngoại và ong dú, xây dựng mô hình nuôi ong.

Bên cạnh đó, hoàn thiện 02 quy trình kỹ thuật khai thác, sơ chế và bảo quản sản phẩm từ ong mật như mật ong, sáp ong, phấn hoa, sữa ong chúa…

                                                                                              Ngọc Hà

27/11/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin loại 3
Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019
Ngày 19/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3098/QĐ-UBND phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019, với 02 đề tài cụ thể như sau:

Đề tài về lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ "Điều tra, đánh giá tiềm năng tài nguyên nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt cho khu vực Chàng Riệc xã Tân Lập, huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh. Mục tiêu chung của Đề tài này là điều tra đánh giá tiềm năng, chất lượng tài nguyên nước khu vực Chàng Riệc xã Tân Lập, huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh; Đề xuất những giải pháp, quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước khu vực Chàng Riệc xã Tân Lập, huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh.

Đề tài thứ 2 về lĩnh vực khoa học nông nghệp "Xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận cho các sản phẩm từ thịt bò của tỉnh Tây Ninh."  Với mục tiêu chung là góp phần nâng cao giá trị các sản phẩm từ con bò của tỉnh Tây Ninh mang nhãn hiệu chứng nhận; Duy trì  danh tiếng sản phẩm từ con bò của tỉnh và nâng cao đời sống người dân vùng sản xuất, kinh doanh sản phẩm. Bên cạnh đó, đề tài còn xây dựng quy trình chăn nuôi, sản xuất, chế biến, kinh doanh các sản phẩm từ con bò của tỉnh Tây Ninh mang nhãn hiệu chứng nhận; Xác định các tiêu chí và phương pháp chứng nhận của các sản phẩm từ con bò của tỉnh Tây Ninh mang nhãn hiệu chứng nhận; Xây dựng hệ thống tổ chức, phương tiện, điều kiện để quản lý và khai thác nhãn hiệu chứng nhận./.

 

                                                                                              Ngọc Hà

22/12/2018 8:00 SAĐã ban hànhTin loại 3
Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ  khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ  khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018

Ngày 10/10/2017, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 2344/QĐ-UBND phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018 

Quyết định phê duyệt danh mục:  2344.pdf

10/10/2018 10:00 SAĐã ban hànhTin
Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2017Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2017
Ngày 21 tháng 11 năm 2016 của UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2017 với 05 Đề tài thuộc 03 Lĩnh vực về: Khoa học Nông nghiệp; Khoa học kỹ thuật và Công nghệ; Khoa học Y, dược cụ thể:

1. Lĩnh vực Khoa học Nông nghiệp:

- Đề tài: Ứng dụng công nghệ tạo viên không nhiệt để sản xuất phân bón NPK kết hợp silica từ tro trấu

2. Lĩnh vực Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ:

- Đề tài: Khảo sát hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài quý hiếm Gà lôi hông tía (LopPhura diardi) ở Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát tỉnh Tây Ninh

- Đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và đề xuất các giải pháp thích ứng

3. Lĩnh vực Khoa học Y, dược

- Đề tài: Thực trạng và giải pháp quản lý tật khúc xạ của học sinh trung học cơ sở tại tỉnh Tây Ninh

- Đề tài: Mô hình bệnh tật ở các bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh

Quyết định phê duyệt danh mục:  Tải về 2969.PDF


Theo sokhcn.tayninh.gov.vn

25/11/2016 4:00 CHĐã ban hành
Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống
Qua 2 năm phát động, Hội thi đã tiếp nhận 110 giải pháp thuộc 5 lĩnh vực, trong đó có 38 giải pháp đoạt giải, đạt tỷ lệ 34,54%. Các giải thưởng gồm: 2 giải Nhì (không có giải Nhất), 16 giải Ba và 20 giải Khuyến khích.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Lão nông Lê Văn Dĩ trong vườn rau thơm xen rau rừng phủ lưới che.

Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tây Ninh lần thứ 10 năm 2016-2017 do Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) chủ trì phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ, Tỉnh đoàn, Liên đoàn Lao động tỉnh tổ chức nhằm khơi dậy tiềm năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

Qua 2 năm phát động, Hội thi đã tiếp nhận 110 giải pháp thuộc 5 lĩnh vực, trong đó có 38 giải pháp đoạt giải, đạt tỷ lệ 34,54%. Các giải thưởng gồm: 2 giải Nhì (không có giải Nhất), 16 giải Ba và 20 giải Khuyến khích.

Tuy số lượng có giảm so với Hội thi lần thứ 9, năm 2014-2015 (110 so với 163 giải pháp), nhưng điểm nổi bật là các mô hình/giải pháp đoạt giải thưởng đều thể hiện được tính mới mẻ, sáng tạo, đặc biệt là tính ứng dụng cao, có khả năng giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lao động sản xuất và công tác, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Lãnh đạo tỉnh và các ban, ngành chụp ảnh lưu niệm trong đợt tham quan, khảo sát giải pháp “Máy trồng mì” của cơ sở cơ khí Trần Quốc Hải.

Lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử viễn thông có 5 giải pháp dự thi. Trong những kỳ hội thi trước đây, số giải pháp dự thi ở lĩnh vực này không nhiều, người dự thi hầu hết là cán bộ thuộc Sở Thông tin - Truyền thông và ngành Giáo dục - Ðào tạo. Cả 2 giải pháp đoạt giải lần này đều là ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.

Giải pháp “Ứng dụng ngôn ngữ lập trình C vào Kit arduino góp phần nâng cao năng lực hợp tác của sinh viên ngành CNTT” của nhóm giảng viên Trường cao đẳng Sư phạm Tây Ninh (Trần Phong Vũ, Công Tôn Nữ Lương Thành, Ðặng Văn Tráng); tuy thiết bị Arduino không mới nhưng việc ứng dụng ngôn ngữ lập trình C là sự sáng tạo trong việc tạo ra sản phẩm “Thiết bị tưới thông minh dành cho hệ thống thuỷ canh ghép động-tĩnh”, tạo hứng thú học tập cho sinh viên và có được sản phẩm thực tế phục vụ giảng dạy.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Dàn bón phân định lượng của Phạm Văn Hùng (Tân Châu).

Lĩnh vực “Công nghiệp, xây dựng, giao thông, vận tải” có 35 giải pháp dự thi và tất cả đều là giải pháp công nghiệp (không có xây dựng và giao thông vận tải). Hầu hết các giải pháp là cải tiến, sáng chế thiết bị phục vụ nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu bức thiết trong sản xuất và đời sống; nhiều tác giả đoạt giải ở lĩnh vực này đã từng có giải cao ở những kỳ hội thi trước đây như: Phạm Văn Hùng (cơ sở cơ khí Tư Hùng ở Tân Châu), Trần Quốc Hải (cơ sở cơ khí Trần Quốc Hải- Tân Châu), Trịnh Thành Nghiêm (Công ty cổ phần Cấp thoát nước Tây Ninh)…

Giải pháp “Sáng chế dụng cụ gắn máng che mưa trên cây cao su” của Trần Văn Long- công nhân Nông trường Cao su Tân Biên có chi phí chế tạo thấp, lại vận hành dễ dàng và hiệu quả, có khả năng áp dụng rộng rãi trong toàn ngành cao su. Còn giải pháp “Cải tiến xe vận chuyển mủ thành xe chữa cháy trên vườn cao su” của Nguyễn Văn Tài- Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi có thể giải quyết được vấn đề phòng cháy chữa cháy (PCCC) tại chỗ của đơn vị, và có khả năng áp dụng rộng rãi trong các nông trường cao su cũng như các vườn cây lớn, các khu vực rừng tự nhiên và khu dân cư.

Trong khi đó, giải pháp “Máy trồng mì” và “Máy thu hoạch khoai mì” của Trần Quốc Hải đã hoàn chỉnh quy trình “cơ giới hoá cây mì” với hiệu quả cao khi thử nghiệm ở Tây Ninh, Bình Phước và Campuchia (máy đã được bán hơn 50 chiếc cho nông dân các tỉnh). Giải pháp “Máy trộn và sấy muối ớt” của Nguyễn Quốc Thái ở xã Long Thành Bắc, huyện Hoà Thành lại là một sáng tạo có tính năng công nghệ cao, phù hợp với nhu cầu sản xuất đặc sản muối ớt tôm ở Tây Ninh.

Giải pháp “Dàn bón phân định lượng” của Phạm Văn Hùng (Tân Châu) đáp ứng nhu cầu bón phân cho những cây trồng cách khoảng (cây cao su non, cây ăn quả…) làm giảm thất thoát phân bón, tăng khả năng hấp thụ cho cây trồng (máy đã được bán ra thị trường hơn 30 chiếc).

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi Nguyễn Văn Tài và một trong những chiếc xe PCCC từ sáng kiến của ông

 

ĩnh vực vật liệu, hoá chất, năng lượng có 5 giải pháp dự thi. “Xử lý sắt và mangan trong nước ngầm không sử dụng hoá chất” của nhóm tác giả Trịnh Thành Nghiêm, Nguyễn Lan Ðình, Nguyễn Văn Hùng thuộc Công ty cổ phần Cấp thoát nước tỉnh ứng dụng công nghệ của Công ty PERNAM cho 2 trạm cấp nước huyện Bến Cầu và Châu Thành, giúp công ty tiết kiệm được chi phí nguyên, nhiên liệu đầu vào cũng như giảm lượng nước tiêu hao trong quá trình xử lý và vận hành hệ thống với nguồn nước thô là nước ngầm; chất lượng nước sau khi xử lý và cung cấp bảo đảm đạt quy chuẩn nước sinh hoạt.

Nông lâm thuỷ sản, tài nguyên và môi trường là lĩnh vực tập trung nhiều giải pháp nhất (40) với hầu hết các tác giả là nông dân. “Nuôi trồng bon sai trong môi trường nước” là giải pháp dự thi của nhóm tác giả thuộc Hội Sinh vật cảnh Tây Ninh (gồm Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thế Long, Nguyễn Trường Giang, Nguyễn Quốc Phương và Trần Hoài Ân) mở ra hướng mới cho người kinh doanh, nuôi trồng sinh vật cảnh, thúc đẩy sự phát triển ngành sinh vật cảnh Tây Ninh.

Còn giải pháp “Trồng rau thơm xen rau rừng phủ lưới che” của tác giả Lê Văn Dĩ- Chủ nhiệm Tổ hợp tác rau rừng VietGAP ấp Lộc Trát, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng đưa ra mô hình kết hợp trồng rau trong lưới che, hạn chế được sâu bệnh, thuốc bảo vệ thực vật, nâng cao năng suất và chất lượng rau; đặc biệt là thuần dưỡng được rau rừng trên diện tích đất nông nghiệp, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng.

Mô hình “Nuôi dơi lấy phân cho hiệu quả kinh tế cao” của Phạm Kim Liên và Lê Thu Thuỷ ở xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu lại phổ biến quy trình nuôi dơi lấy phân để bán, kết hợp phục vụ sản xuất cây trồng trên diện tích đất nuôi dơi, mang đến hiệu quả kinh tế cao và góp phần bảo vệ môi trường.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thế Long tạo tán cho cây- một khâu trong mô hình “Nuôi trồng bonsai trong môi trường nước”.

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo có 25 giải pháp, được tuyển chọn từ các sáng kiến của các trường trong tỉnh. Giải pháp “Xây dựng cấu trúc đề kiểm tra môn Vật lý theo định hướng phát triển năng lực của học sinh” của tác giả Tạ Xuân Thơ- giáo viên Trường THPT Tây Ninh giúp cải thiện phương pháp giảng dạy và học tập, trong khi “Khảo sát truyện dân gian Tây Ninh” của tác giả Hà Thị Thới - giảng viên Trường CÐSP Tây Ninh, là một nghiên cứu chuyên sâu về thể loại truyện dân gian- nguồn tham khảo hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu về lĩnh vực này.

Hội thi lần này, ban tổ chức đã xét chọn 10 giải pháp (trong số 18 giải pháp đoạt giải Nhì và giải Ba) đưa đi tham dự Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật toàn quốc lần thứ 14 năm 2016-2017 (chưa công bố kết quả).

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Chị Phạm Kim Liên và mô hình “Nuôi dơi lấy phân” cho hiệu quả kinh tế cao.

Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật tỉnh Tây Ninh lần này tiếp tục khẳng định đây là nơi hội tụ, phát huy tinh thần lao động sáng tạo, khơi dậy phong trào quần chúng tiến công vào khoa học kỹ thuật. Ðối tượng tham gia khá đa dạng, đủ mọi thành phần, lứa tuổi. Ðiều đáng tiếc là Hội thi phát động 6 lĩnh vực nhưng chỉ có 5 lĩnh vực có giải pháp dự thi, còn lại lĩnh vực y dược không có giải pháp nào.

Riêng 2 lĩnh vực: công nghệ thông tin, điện tử viễn thông và vật liệu, hoá chất, năng lượng còn ít giải pháp dự thi (mỗi lĩnh vực chỉ có 5). Và số lượng giải pháp tham gia Hội thi tổng cộng cũng chỉ có 110- chưa tương xứng với tiềm năng trong tỉnh. Còn nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm việc vận động cán bộ, công nhân tham gia Hội thi.

Hội thi lần này cũng không có giải pháp dự thi từ lực lượng đoàn viên thanh niên. Với ngành Y tế, tuy hằng năm đều có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh và cấp cơ sở, nhưng lại không có giải pháp nào tham gia Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật.

Theo Báo Tây Ninh Online

05/12/2017 10:00 SAĐã ban hành
Ứng dụng EM (EFFECTIVE MICROORGANISMS) vào xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải từ các cơ sở chế biến bột củ mì, cao su trên địa bàn tỉnhỨng dụng EM (EFFECTIVE MICROORGANISMS) vào xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải từ các cơ sở chế biến bột củ mì, cao su trên địa bàn tỉnh
Đồng chủ nhiệm đề tài: ThS. Trịnh Đình Bình và KS. Nguyễn Văn Hùng. Cơ quan chủ trì: Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2005 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 165,812 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá.

 

MỤC TIÊU

- Ứng dụng công nghệ EM vào xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải chế biến khoai mì, cao su.

- Xây dựng quy trình công nghệ sử dụng EM trong xử lý nước thải ở Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Thử nghiệm EM để giảm thiểu nồng độ các chất ô nhiễm CH4 , H2S và NH3, mùi hôi và đẩy nhanh tốc độ phân giải hữu cơ của rác thải sinh hoạt.

- Thử nghiệm EM để giảm thiểu nồng độ các chất ô nhiễm đối với các thông số BOD, COD, SS, mùi hôi trong nước thải chế biến khoai mì.

- Thử nghiệm EM để giảm thiểu nồng độ các chất ô nhiễm đối với các thông số BOD, COD, SS, mùi hôi trong nước thải chế biến cao su.

- Đánh giá hiệu quả kinh tế và xã hội của công nghiệp EM.

- Xây dựng quy trình công nghệ tối ưu để sử dụng EM trong xử lý nước thải ở Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu đã khẳng định có thể áp dụng công nghệ EM vào xử lý môi trường ở tỉnh Tây Ninh vì cho hiệu quả cao và dễ áp dụng. Cụ thể:

- Đối với chất thải rắn: được xử lý bằng cách phun chế phẩm EM thì tốc độ giảm thể tích và độ giảm mùi cao hơn đáng kể so với phân hủy tự nhiên.

+ Rác thải được xử lý phun chế phẩm EM thì tốc độ giảm về thể tích, số lượng côn trùng, ruồi nhặng, mùi cao hơn đáng kể so với không xử lý bằng EM.

+ Sau 27 ngày thí nghiệm trên mô hình cố định, thể tích các thùng (6 thùng; 2m2/thùng) giảm từ 18% - 30%. Nếu để tự nhiên sau 27 ngày thí nghiệm, thể tích các thùng giảm từ 13,3% - 16,7%.

+ Các thùng chứa hoàn toàn là rác thải hữu cơ (đã phân loại) độ cao của rác giảm nhiều hơn các thùng chứa rác hỗn hợp. Thùng phân loại rác sử dụng EM Việt Nam có độ cao của rác giảm nhanh gấp 1,5 lần so với thùng không phân loại sử dụng cùng loại EM. Thùng phân loại rác sử dụng EM Nhật có độ cao của rác giảm không đáng kể so với thùng không phân loại.

+ Xử lý 1m3 rác chỉ khoảng 2.000 đồng, điều đó cho thấy giảm đáng kể cho ngân sách địa phương trong công tác xử lý rác thải.

- Đối với nước thải: Nước thải từ chế biến khoai mì và cao su được xử lý bằng dung dịch EM đã làm giảm mạnh mùi hôi, các chỉ số COD, BOD, SS. Nồng độ EM1 Việt Nam 5%, hiệu quả xử lý tốt, so sánh chế phẩm Việt Nam và Nhật Bản:

+ Nồng độ EM1 Việt Nam, hiệu quả xử lý SS cao hơn EM1 Nhật 2,6 lần.

+ Nồng độ EM1 Việt Nam, hiệu quả xử lý COD cao hơn EM1 Nhật 7,9 lần.

+ Nồng độ EM1 Việt Nam, hiệu quả xử lý BOD5 cao hơn EM1 Nhật 1,8 lần.

+ Theo tính toán ban đầu để giảm nồng độ BOD xuống 45%, nồng độ COD 35% so với nồng độ ban đầu, chi phí này khoảng 800 đ/m3 nước thải.

- Sản xuất chế phẩm EM tại Tây Ninh.

+ Chủng vi sinh: Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Tây Ninh đã ứng dụng các giống vi sinh để sản xuất EM-1 và EM - Bokashi, đánh giá được một số chỉ tiêu thiết yếu như định danh các chủng vi khuẩn lactic thuộc giống Lactobacillus, Streptococcus.

+ Sản xuất dạng pilot: đã thiết lập được thành phần môi trường lên men sản xuất EM-1 và EM - Bokashi từ các nguyên liệu sẵn có ở tỉnh Tây Ninh như rỉ đường mía, cám gạo, khô dầu phộng bột cá, nước chiết giá và một số muối vô cơ.

+ Kết quả kiểm tra, phân tích: qua kết quả kiểm tra khách quan của Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, EM-1 và EM - Bokashi đã sản xuất là những sản phẩm vi sinh có chất lượng tốt, không có các vi sinh vật gây bệnh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 01/02/2007. Kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào xử lý chất thải tại các nhà máy, cơ sở chế biến mì và cao su nhằm giảm thiểu các nguồn gây ô nhiễm môi trường.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015Đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015
Danh mục đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015

Sở Khoa học và công nghệ thông báo 

Danh mục đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015

(Kèm theo Quyết định và Danh mục)

 

Theo http://sokhcn.tayninh.gov.vn

 

23/04/2015 11:00 SAĐã ban hành
Công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2017 - 2018Công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2017 - 2018
Ngày 10/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2983/QĐ-UBND công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo, trong đó

- Số sáng kiến cấp cơ sở đạt yêu cầu công nhận sáng kiến cấp tỉnh: 466/599, với 01 sáng kiến đạt loại A (xuất sắc), 239 sáng kiến đạt loại B (khá), và 226 sáng kiến đạt loại C (trung bình).

- Số sáng kiến cấp cơ sở không đạt yêu cầu công nhận sáng kiến cấp tỉnh: 133/599.

(Danh sách kèm theo) SO KH_CN GUI SAP XEP LAI DANH SACH (27-11-2018).doc

 

                                                                                              Ngọc Hà

11/12/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin loại 3
Quyết định Công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnhQuyết định Công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh

Công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh sau:

- Tên đề tài: "Biên soạn, chỉnh lý, bổ sung địa lý y tế quân sự tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2011-2015".

- Cơ quan chủ trì: Ban Quân Dân y tỉnh Tây Ninh.

- Chủ  nhiệm  đề  tài: BS. CKII. Lương Quang Lực.

- Xếp loại: Đạt

2411.qd.PDF


27/09/2018 10:00 SAĐã ban hànhTin
Đề tài, dự án Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2014Đề tài, dự án Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2014
Danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ được phê duyệt năm 2014

 Sở Khoa học và Công nghệ Tây Ninh thông báo 

Danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2014

(Kèm theo Quyết định và Danh mục)

 

Theo http://sokhcn.tayninh.gov.vn

 

23/04/2015 11:00 SAĐã ban hành
Công nhận kết quả đề tài KHCN về “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.Công nhận kết quả đề tài KHCN về “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2867/QĐ-UBND công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.

Theo nội dung quyết định, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II là cơ quan chủ trì, do Thạc sĩ Nguyễn Đức Minh làm chủ nhiệm đề tài. Viện còn phối hợp với Trung tâm khuyến nông tỉnh trong việc lựa chọn điểm mô hình trên địa bàn tỉnh, tổ chức tập huấn cho các hộ dân tham gia thực hiện đề tài.

Được biết, kỹ thuật nuôi thương phẩm thủy sản, đặc biệt đối với các loài có giá trị kinh tế cao như tôm càng xanh còn lạc hậu. Hầu hết người dân nuôi tôm càng xanh theo kinh nghiệm, chưa áp dụng những cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Được biết, Đề tài nghiên cứu đưa những tiến bộ khoa học vào thực tiễn sản xuất như áp dụng con giống toàn đực, sử dụng các nguồn lực tại chỗ nhằm nâng cao năng suất và sản lượng tôm càng xanh toàn đực ở miền Đông Nam Bộ nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng.

Bên cạnh đó, Đề án cũng xây dựng các mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực tại các điểm với các vùng sinh khác nhau như nuôi tại hệ thống sông Vàm Cỏ Đông (huyện Gò Dầu), kênh Đông (huyện Dương Minh Châu) và hệ thống kênh Tây (thành phố Tây Ninh) từ tháng 02/2016 đến tháng 02/2018 nhằm đánh giá khách quan và tính hiệu quả thực tế của mô hình khi triển khai trên địa bàn tỉnh.

Được biết, các mô hình được triển khai đạt hiệu quả kinh tế cao sau khi kết thúc vụ nuôi, trong đó tỉ suất lợi nhuận cao nhất đạt từ 55% đến 72% tại Kênh Đông và Kênh Tây.

                                                                                              Ngọc Hà

27/11/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin
Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và Đảng viên trong tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2006 -  2010Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và Đảng viên trong tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2006 -  2010
Chủ nhiệm đề tài: CN. Dương Thị Thu Hiền Cơ quan chủ trì: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2006 - 2007 Thời gian nghiệm thu: năm 2007 Kinh phí thực hiện: 311,066 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong toàn tỉnh. Phân tích những mặt mạnh, yếu và nguyên nhân.

Đề ra biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong toàn tỉnh Tây Ninh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Nghiên cứu, phân tích làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn một cách khoa học về xây dựng tổ chức cơ sở đảng nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các loại hình tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở cơ sở trong toàn tỉnh đảm bảo thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, đáp ứng yêu cầu của cuộc vận động chỉnh đốn Đảng, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới hiện nay.

-  Làm rõ tính cấp bách, cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, tìm nguyên nhân và xác định phương hướng, đề xuất những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên của tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Tính đến 30/9/2006, toàn tỉnh có 599 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 434 chi bộ cơ sở và 165 đảng bộ cơ sở, với 2 đảng bộ bộ phận, 1.450 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở; với tổng số đảng viên là 20.561 đảng viên, chiếm tỉ lệ 1,91% so dân số trong tỉnh, trong đó đảng viên có tôn giáo là 1.430 người, chiếm 9,95% tổng số đảng viên toàn tỉnh, đảng viên là dân tộc ít người: 84 người, chiếm 0,41% tổng số đảng viên toàn tỉnh.

+ Kết quả khảo sát điều tra tình hình thực tế ở 596 tổ chức cơ sở đảng trong toàn tỉnh: hầu hết các tổ chức cơ sở đảng sau mỗi lần đại hội Đảng đều rà soát, bổ sung và xây dựng quy chế làm việc, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể cấp ủy và của từng cá nhân Bí thư, Phó Bí thư và ủy viên cấp ủy

+ Năm 2003 có 503/558 (90,41%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó: số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 184/503 (36,58%) và 1088/1.197 (90,89%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh.

+ Năm 2004 có 493/563 (87,57%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó: số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 94/493 (19,06%) và 1.173/1.285 (91,28%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh.

+ Năm 2005, có 522/577 (90,47%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 146/522 (27,96%) và 1.269/1.365 (92,96%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh. So với năm 2003, cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh tăng 0.32%.

+ Mặt yếu kém: một số cấp ủy tuy có xây dựng quy chế nhưng trong quá trình thực hiện không theo quy chế làm việc; lúng túng trong việc xác định nhiệm vụ chính trị, công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở một số cấp ủy chưa thật sự đổi mới, nội dung còn chung chung, hiệu quả không cao, việc phê bình và tự phê bình còn yếu.

-  Chất lượng đội ngũ đảng viên tăng qua các năm: năm 2001(15.878 đảng viên); 2002 (16.929 đảng viên); 2003 (17.909 đảng viên); 2004 (18.939 đảng viên); 2005 (19.840 đảng viên); 2006 (20.561 đảng viên). Tăng bình quân mỗi năm là 5,02%.

+ Các cấp ủy tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng đảng viên gắn với việc xây dựng, củng cố, kiện toàn các tổ chức cơ sở đảng. Công tác kiểm tra, quản lý, phân công cụ thể cho từng đảng viên được thực hiện tốt.

+ Mặt hạn chế: Một bộ phận đảng viên còn thụ động, tinh thần đấu tranh xây dựng chưa cao, còn thờ ơ thiếu trách nhiệm, chưa gương mẫu trong nghiên cứu học tập để nâng cao trình độ năng lực. Năm 2005, khi đánh giá chất lượng đảng viên, có 352/5.542 đảng viên đủ tư cách nhưng có mặt hạn chế chiếm 6,35%, đảng viên vi phạm tư cách chiếm 0,9% (167/18.456 đảng viên).

-  Nguyên nhân mặt làm được: Đảng đề ra nghị quyết về đổi mới và chỉnh đốn Đảng; các cấp ủy Đảng cấp trên cơ sở đề ra hướng dẫn các tiêu chuẩn xây dựng chi, đảng bộ và cụ thể thành biểu điểm thi đua xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ chủ chốt đã xác định đúng vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình và của tổ chức đảng; Trung ương ban hành nhiều Nghị quyết, Quyết định đúng đắn.

-  Nguyên nhân của mặt yếu kém: một số cấp ủy các cấp chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác xây dựng đảng ở cơ sở, chưa chỉ đạo chặt chẽ việc đánh giá đúng chất lượng; một số cấp ủy chưa đổi mới cách thức chỉ đạo đối với cơ sở, hội họp nhiều, chất lượng hội nghị không cao, chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng tổ chức cơ sở đảng; công tác kiểm tra, xử lý kỷ luật của một số tổ chức đảng chưa nghiêm, chưa có biện pháp xử lý kịp thời, kiên quyết.

-  Đề án đã làm rõ được mục tiêu và nhiệm vụ cần nghiên cứu, lý giải tính cấp bách phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các loại hình tổ chức cơ sở đảng trong tỉnh Tây Ninh trước nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

-  Đề án nêu lên một số giải pháp góp phần vào sự lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng của tỉnh ngày càng trong sạch, vững mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong toàn tỉnh, nhằm phấn đấu thực hiện hoàn thành Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 24/8/2007. Kết quả đề án làm cơ sở cho Thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết về nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong tỉnh Tây Ninh nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sáng kiến cấp tỉnh năm 2016: Đề nghị công nhận hơn 40 sáng kiến cấp tỉnh Sáng kiến cấp tỉnh năm 2016: Đề nghị công nhận hơn 40 sáng kiến cấp tỉnh
Ngày 22/02/2017, tại phòng họp Sở Khoa học và Công nghệ, hội đồng xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh đã tổ chức họp lần thứ 3 để đánh giá các sáng kiến cấp tỉnh.

hoidongsangkien.JPG

Hội đồng xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh.

Hội đồng xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh được thành lập theo Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 05/01/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh gồm 13 thành viên, do đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Chủ tịch hội đồng, đồng chí Nguyễn Văn Hùng, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ làm Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng.

Năm 2016, với vai trò Thường trực Hội đồng, Sở Khoa học và Công nghệ đã tiếp nhận 05 hồ sơ đề nghị đặc cách công nhận sáng kiến (trong đó có 02 đơn vị cùng đề nghị 01 sáng kiến), 47 hồ sơ đề nghị xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh (trong đó có 02 đơn vị cùng đề nghị 01 sáng kiến).

Sau 03 ngày làm việc tâm huyết, trách nhiệm vào các ngày 19/01/2017, 15/02/2017 và 22/02/2017 tại Sở Khoa học và Công nghệ, Hội đồng đã thống nhất kết quả trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt: 04 đề tài được đặc cách công nhận sáng kiến cấp tỉnh, 43 sáng kiến đạt yêu cầu, 03 sáng kiến không đạt yêu cầu.

Đây là năm đầu tiên, tỉnh triển khai thực hiện Quy định về hoạt động sáng kiến tỉnh Tây Ninh theo Quyết định số 66/2015/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong quá trình tổ chức thực hiện Quyết định số 66/2015/QĐ-UBND, thành viên Hội đồng cũng đề xuất Sở Khoa học và Công nghệ tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung những nội dung còn bất cập, chưa rõ ràng trong Quy định về hoạt động sáng kiến ban hành kèm theo Quyết định số 66/2015/QĐ-UBND.

                                                                                       KGVX

24/02/2017 10:00 SAĐã ban hành
Tác động của trò chơi trực tuyến (Game online) đến sự phát triển nhân cách học sinh THPT tỉnh Tây NinhTác động của trò chơi trực tuyến (Game online) đến sự phát triển nhân cách học sinh THPT tỉnh Tây Ninh
Ngày 16/4/2015, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh đã tổ chức nghiệm thu đề tài cấp tỉnh: “Tác động của trò chơi trực tuyến (Game online) đến sự phát triển nhân cách học sinh THPT tỉnh Tây Ninh” do Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh chủ trì thực hiện.

Hoidong.jpg

Hội đồng nghiệm thu đề tài có sự tham dự của bà Phạm Thị Lan Hương – GĐ Sở KH&CN, Chủ tịch Hội đồng; ông Huỳnh Văn Nghiệp - PCT Liên hiệp các Hội KH&KT Tây Ninh; PGS.TS Ngô Minh Oanh – Viện nghiên cứu giáo dục (Trường ĐH Sư phạm TP.HCM); TS. Ngô Xuân Điệp – Trường Đại học KHXH&NV TP.HCM tham gia phản biện cùng các thành viên đang công tác tại các Sở, ngành có liên quan.

Với nội dung nghiên cứu những tác động của trò chơi trực tuyến game online đến sự phát triển nhân cách của học sinh, từ đó đề xuất một số giải pháp hỗ trợ gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội hướng dẫn học sinh sử dụng game online một cách có hiệu quả.

Hội đồng nghiệm thu đánh giá: Đề tài góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo; phát triển nhân các của học sinh phù hợp với tiêu chí của xã hội và hạn chế các tác động tiêu cực của việc chơi game online không lành mạnh trong học sinh THPT. Đồng thời, Hội đồng đề nghị Ban chủ nhiệm đề tài bổ sung và hoàn chỉnh báo cáo theo góp ý của các thành viên Hội đồng trước khi trình phê duyệt công nhận kết quả.

Hội đồng nghiệm thu thống nhất đề tài đạt loại: Khá./.

Phòng TT – SHTT

22/04/2015 4:00 CHĐã ban hành
Công nhận đề tài: "Xây dựng kế hoạch bảo tồn các loài Linh Trưởng ở Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát tỉnh Tây Ninh".Công nhận đề tài: "Xây dựng kế hoạch bảo tồn các loài Linh Trưởng ở Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát tỉnh Tây Ninh".

Công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh sau:

- Tên đề tài: "Xây dựng kế hoạch bảo tồn các loài Linh Trưởng ở Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát tỉnh Tây Ninh".

- Cơ quan chủ trì : Ban Quản lý Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát.

- Chủ nhiệm đề tài: KS. Tạ Ngọc Dân.

- Xếp loại: Đạt.

1467.PDF

08/06/2018 10:00 SAĐã ban hànhTin
Giám đốc nhiều cải tiến kỹ thuậtGiám đốc nhiều cải tiến kỹ thuật
Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su.

Ông là kỹ sư nông nghiệp, gắn bó với nông trường này gần ba mươi năm. Lúc đầu, ông là trợ lý kỹ thuật, rồi làm phó giám đốc Nông trường, từ năm 2007 đến nay làm giám đốc. Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su. Gần đây nhất, ông có công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

Giám đốc nhiều cải tiến kỹ thuật

Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi Nguyễn Văn Tài bên công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

Tại Ðại hội Công đoàn Công ty cổ phần Cao su Tây Ninh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017- 2022, có một cá nhân được Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng lao động sáng tạo trong phong trào thi đua yêu nước năm 2016. 

Trước đó, ông đã được Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam tặng Bằng khen “Ðã có thành tích xuất sắc trong phong trào sáng kiến, sáng tạo, cải tiến khoa học kỹ thuật trong đơn vị góp phần xây dựng Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam ngày càng vững mạnh”. Người được vinh dự đón nhận Bằng lao động sáng tạo và bằng khen vừa nêu là kỹ sư Nguyễn Văn Tài- Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi (thuộc Công ty cổ phần Cao su Tây Ninh). 

Ông là kỹ sư nông nghiệp, gắn bó với nông trường này gần ba mươi năm. Lúc đầu, ông là trợ lý kỹ thuật, rồi làm phó giám đốc Nông trường, từ năm 2007 đến nay làm giám đốc. Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su. Gần đây nhất, ông có công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

“Biến” xe chở mủ thành xe chữa cháy

“Phương án lắp đặt đơn giản, chi phí thấp, tính ứng phó kịp thời tại chỗ, tính phổ dụng xã hội hoá cao, nâng cao hiệu quả phòng - chữa cháy” là kết quả ứng dụng công trình của kỹ sư Tài. Ông cho biết, Nông trường cao su Bến Củi quản lý 2.270 ha cao su. Mùa khô cũng là mùa cao su thay lá. Toàn bộ lá trên cây rụng xuống đất thành một lớp khá dày, rất dễ cháy.

Ngoài ra, hằng năm, nông trường thanh lý từ 150 ha đến 200 ha cây cao su trong mùa khô; các cành lá sau khi cưa cắt để lại rất dễ cháy và lây lan đến các vườn cây xung quanh. Thực tế tại nông trường đã xảy ra hai vụ cháy trong quá trình thanh lý vườn cây. Vào mùa khô, nông trường đều lập kế hoạch và phương án phòng cháy, chữa cháy (PCCC), huy động nhiều công nhân cho công tác PCCC, nhưng phương tiện chữa cháy rất thô sơ.

Trước thực trạng đó, kỹ sư Tài băn khoăn suy nghĩ, tìm tòi giải pháp chữa cháy tại chỗ đạt hiệu quả cao. Từ phương tiện sẵn có của nông trường là xe vận chuyển mủ có 3 tank (3 bồn chứa mủ), máy bơm dùng bơm mủ lên tank, kỹ sư Tài nảy sinh ý tưởng chuyển công năng sử dụng từ bồn vận chuyển mủ thành bồn chứa nước và máy bơm mủ thành máy tạo áp lực cho vòi rồng thực hiện việc chữa cháy. Khi mùa khai thác mủ kết thúc, cũng là mùa cao su bắt đầu thay lá, cây ngưng cạo, khi đó bồn chứa mủ, máy bơm mủ được dùng cho xe PCCC.

Kết quả thử nghiệm cho thấy, tất cả các phương tiện được lắp đặt hệ thống chữa cháy do ông Tài thiết kế đều có khả năng di chuyển, tiếp cận điểm cháy với phạm vi hoạt động không hạn chế. Ðộ phun xa của đầu rồng phụ thuộc vào công suất của máy bơm (máy bơm 5 CV phun xa 30m, máy bơm 9 CV phun xa 50m). Thời gian hoạt động phun chữa cháy của mỗi xe chứa 3 bồn nước là 30 phút. Ðể có nguồn nước cung cấp cho công tác chữa cháy, nông trường bố trí các giếng khoan phân bố đều trong vườn cây cao su.

Sau khi thử nghiệm, xe chữa cháy tự chế của kỹ sư Tài đáp ứng đầy đủ tính năng theo yêu cầu của cơ quan PCCC. Ðặc biệt là tổng chi phí cải tiến xe chở mủ thành xe PCCC chỉ 9,5 triệu đồng, giảm chi phí đầu tư trang bị xe chữa cháy chuyên dùng đến 800 triệu đồng/xe. Có xe chữa cháy này, nông trường tiết kiệm rất đáng kể trong việc bố trí công nhân trực chống cháy cho toàn bộ diện tích vườn cây.

Theo kỹ sư Tài, không chỉ đối với vườn cao su, mà đối với vùng trồng mía, từ phương tiện máy móc sẵn có, các chủ trang trại có thể tự lắp đặt máy chữa cháy theo thiết kế của ông. Ðối với các khu bảo tồn, rừng phòng hộ, khu di tích, kể cả khu dân cư đô thị cũng có thể trang bị máy chữa cháy này.

“Cây” sáng kiến của ngành cao su

Trước đó, ông Tài đã có nhiều công trình sáng kiến cải tiến kỹ thuật khác, đáng lưu ý như: kỹ thuật tạo tán vườn cây kiến thiết cơ bản; công cụ xử lý cây nghiêng trên vườn cây kinh doanh; công cụ khai thác vườn cây tận thu; sử dụng máy bón phân thay thế bón phân thủ công trên vườn cây kiến thiết cơ bản.

Về kỹ thuật tạo tán, kỹ sư Tài cho biết, nhằm khống chế ưu thế về ngọn của vườn cây kiến thiết cơ bản dòng vô tính (phân cành cao dễ ngã đổ), qua quá trình quản lý, nghiên cứu, tìm tòi phân tích đặc tính hình thái của cây cao su, vào năm 2006, ông đưa ra phương pháp cắt ngọn tạo tán cho giai đoạn kiến thiết cơ bản đối với vườn cây năm thứ 2, thứ 3.

Nhờ có kỹ thuật tạo tán, cây phân cành hợp lý, thân cây phát triển đồng đều, thúc đẩy độ tăng nhanh quành tròn thân cây, bảo đảm mật độ vườn cây, hạn chế gãy đổ do gió. Cũng từ đó, người trồng cao su rút ngắn được thời gian kiến thiết cơ bản của cây từ 6 tháng đến một năm (so với trước khi chưa có kỹ thuật tạo tán). Công trình này đã được áp dụng cho toàn ngành cao su.

Theo kỹ sư Tài, đây là công trình vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính nghệ thuật cao, để nâng cao chất lượng vườn cây, tạo tiềm năng năng suất cho thời kỳ kinh doanh.

Hằng năm vào mùa mưa bão, giông lốc, nỗi lo vườn cây cao su kinh doanh bị gãy đổ luôn là vấn đề nhức nhối của người trồng cao su, nhất là trên dòng vô tính RRIV4. Ðể xử lý cây nghiêng, có nguy cơ gãy đổ trên vườn cây nhóm 1 đang khai thác, trước kia, nông trường cho người leo lên cây chặt tỉa nhánh. Công việc này không bảo đảm an toàn lao động, năng suất thấp, hiệu quả không cao (không mé được những nhánh trên ngọn cao). Sau đó, nông trường dùng xe chuyên dụng đưa người và máy cưa lên cao để xử lý; cách làm này quá tốn kém và năng suất cũng thấp.

Từ thực trạng đó, năm 2012, kỹ sư Tài nghĩ ra cách dùng lưỡi câu liêm nối cán dài để tỉa cành cây nghiêng. Cách làm này bảo đảm an toàn lao động, vừa nâng cao năng suất mà chi phí rất thấp, dễ thực hiện, hiệu quả cao. Phương pháp này được đưa sang Lào áp dụng xử lý hàng ngàn ha cao su bị gió lốc nghiêng ngả.

Trước đây, để khai thác tận thu trên vườn cây cao su chuẩn bị thanh lý, công nhân phải bắc thang (hoặc ghế cao) để cạo, vừa không an toàn mà năng suất thấp. Sau đó, nông trường cải tiến bước đầu là dùng cây tầm vông dài nối làm cán dao cạo.

Cách làm này cũng có hiệu quả, nhưng không linh hoạt theo chiều cao cạo miệng, hạn chế năng suất lao động và cũng không khai thác hết tiềm năng năng suất vườn cây chuẩn bị thanh lý. Năm 2010, kỹ sư Tài tạo ra dụng cụ khai thác vườn cây tận thu tiên tiến và hiệu quả hơn. Ðó là dùng cán dao kim loại có 3 đoạn nối nhau bằng chốt khoá, để người công nhân linh hoạt khai thác ở nhiều độ cao khác nhau.

Ðồng thời, cán dao 3 đoạn này cũng tương thích với 3 công dụng khác nhau: lắp đặt vào lưỡi dao cạo; lắp đặt vào dụng cụ bấm máng và dụng cụ bôi kích thích. Nhờ sử dụng công cụ trên, công nhân khai thác hết tiềm năng năng suất cây chuẩn bị thanh lý. Cụ thể, trước đây chỉ khai thác được 1,6 tấn/ha, nay đã nâng lên được 2 tấn/ha. Bộ công cụ này nay đã được áp dụng rộng rãi trong ngành cao su.

 Ngày trước, việc bón phân trên vườn cây kiến thiết cơ bản theo phương pháp thủ công. Do vườn cây rộng lớn, nên hằng năm đến mùa vụ bón phân đòi hỏi phải huy động nhiều nguồn nhân lực. Cách bón thủ công còn nhiều hạn chế về kỹ thuật, năng suất lao động thấp, cần nhiều lao động và tính hại cao (do công nhân tiếp xúc trực tiếp với phân bón).

Do vậy, kỹ sư Tài đã nỗ lực cải tiến thành công máy bón phân trên vườn cây kiến thiết cơ bản và đưa vào sử dụng. Ðây là máy tự hành (tự trộn, tự rạch hàng, tự bón, tự lấp đất), với những ưu điểm thấy rõ: năng suất cao (20 ha/ngày/máy), đạt yêu cầu về mặt kỹ thuật, giảm độc hại, giảm chi phí thuê công nhân (một máy thay thế 20 công nhân bón phân thủ công) và dễ quản lý, kiểm soát.

Qua nhiều năm trải nghiệm trong ngành, kỹ sư Nguyễn Văn Tài đã tự nghiên cứu, học hỏi, tìm tòi để có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng suất và chất lượng vườn cây, giảm thâm dụng lao động, ứng phó hiệu quả với tình hình giá cao su giảm sâu và khủng hoảng thiếu lao động như hiện nay.

Kỹ sư Tài tâm sự: “Khi một sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được tạo ra mà tác giả cố giữ bí mật chỉ để làm lợi riêng cho mình thì hiệu quả mang lại sẽ hạn chế. Do đó, sáng kiến chỉ có giá trị khi được nhân rộng”. Chính vì vậy, ông rất vui khi những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật của mình được phổ biến khắp nơi.

Theo Báo Tây Ninh Online

11/09/2017 9:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu, áp dụng phương pháp gina – 2002 trong điều trị bệnh hen phế quản ở Tây NinhNghiên cứu, áp dụng phương pháp gina – 2002 trong điều trị bệnh hen phế quản ở Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: ThS BS. Lương Thị Thuận Cơ quan chủ trì: Trung tâm Phòng chống lao Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2007 - 2009 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 369,2 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá.

 

 

MỤC TIÊU

-  Ứng dụng “chiến lược xử trí hen phế quản toàn cầu” (GINA 2002) để quản lý hen phế quản (HPQ) trong cộng đồng dân cư nhằm kiểm soát bệnh HPQ, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân tại Tây Ninh.

-  Đánh giá hiệu quả và tính khả thi của phương pháp điều trị HPQ theo GINA, đồng thời đề xuất một số biện pháp cải tiến cho phù hợp với tình hình tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Triển khai phòng thăm dò chức năng hô hấp tại Trung tâm phòng chống Lao Tây Ninh.

-  Khảo sát: dùng phương pháp điều tra cộng đồng để xác định một số yếu tố dịch tễ cơ bản về bệnh HPQ theo GINA.

-  Can thiệp điều trị và đánh giá kết quả điều trị HPQ theo GINA.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Kết quả phỏng vấn điều tra 600 người bằng bảng câu hỏi, chọn được 48 người có triệu chứng nghi HPQ. Sau khi chụp X-quang, xét nghiệm đàm và đo hô hấp ký có test giãn phế quản, có 24 người được chuẩn đoán xác định HPQ;

-  Tỷ lệ hiện mắc HPQ tại tỉnh Tây Ninh năm 2007 là 4%, tuổi trung bình 25,5 tuổi (nam 1,2%; nữ 2,8% dân số). Trong đó trẻ em từ 7 đến 15 tuổi là 3,3%; người lớn trên 15 tuổi là 5,2%.

-  Mô hình quản lý, điều trị bệnh HPQ, phát đồ điều trị HPQ dựa theo tiêu chuẩn GINA với phạm vi, mức độ, phương cách áp dụng phù hợp với đặc thù của tỉnh Tây Ninh.

+ Áp dụng phương pháp GINA-2002 trong giai đoạn can thiệp với cở mẫu điều trị 200 bệnh nhân HPQ, tuổi trung bình là 38,7 ±19,9 (trẻ em chiếm 21,5%); tỷ lệ bệnh nhân nữ trong nhóm nghiên cứu (60%) cao hơn nam, ở trẻ em tỷ lệ bệnh nhân nam cao hơn nữ; bệnh nhân chủ yếu cư trú tại thị xã (34%); nghề liên quan bụi chiếm 31%.

+ Tất cả bệnh nhân HPQ đều có ít nhất 1 yếu tố kích phát cơn HPQ. Các YTKP thường gặp là thay đổi thời tiết (85%), nhiễm trùng hô hấp (51%), bụi (46%), gắng sức (42,5%), thực phẩm (35,5%), khói thuốc lá (32,5%), lạnh (31,5%), hóa chất và mùi lạ (27,5%).

+ Trong lần đầu khám bệnh 100% đều có ít nhất một triệu chứng lâm sàng. Trong đó ho 94,5%; khó thở 89%; khò khè 87,5%; nặng ngực 65%; ran phế quản 2,5%. Có 18,5% BN dùng thuốc cắt cơ, 10,8% BN đã từng phải nhập viện cấp cứu vì HPQ. Tất cả các triệu chứng lâm sàng và chỉ số kiểm soát HPQ đều cải thiện rõ rệt sau hai tuần điều trị theo GINA.

+ X quang phổi chuẩn bình thường ở 96% BN; có 36,5% BN có đáp ứng với test giãn phế quản, trong đó chỉ số PEF đáp ứng cao nhất 30,5%. Hội chứng hạn chế 31,5%, hội chứng tắc nghẽn 28%, PEF thấp đơn thuần 19%, có 14% BN hô hấp ký bình thường.

-  Bảng số liệu, báo cáo phân tích có so sánh với các tài liệu nghiên cứu khác (BV Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh; Viện Lao - Bệnh phổi Trung ương), lý giải vấn đề một cách khoa học.

-  Sau mỗi 3 tháng điều trị có trên 80% bệnh nhân được hạ bậc. Sau 9 tháng có 73,5% bệnh nhân HPQ bậc 4 được hạ đến bậc 1. Kết quả số BN tuân thủ điều trị còn thấp (42%), còn 58% BN không tuân thủ với nhiều hình thức và lý do khác nhau; tác dụng phụ không đáng kể (1,5%).

-  Qua nghiên cứu, việc xử trí theo chiến lược toàn cầu đối với bệnh HPQ đã mang lại hiệu quả rất tốt cả trên lâm sàng, hô hấp ký cũng như mức độ kiểm soát HPQ.

-  Mô hình quản lý, điều trị bệnh HPQ, phát đồ điều trị ở các Trạm y tế phường (xã); bệnh viện huyện, thị xã và các tuyến tỉnh.

-  Một số giải pháp cải tiến cho phù hợp với tình hình tỉnh Tây Ninh:

+ Thời gian tái khám mỗi tháng ngay sau lần khám đầu tiên thay vì 2 tháng vì điều kiện đi lại khó khăn; có thể dùng thuốc điều trị HPQ dạng Generics; mỗi 3 tháng các cơ sở y tế đưa bệnh nhân đến đo hô hấp ký tại Trung tâm phòng chống Lao và Bệnh phổi Tây Ninh;

+ Tư vấn kỹ cho BN trong suốt thời gian quản lý điều trị để tăng cường sự tuân thủ của BN; phổ biến kiến thức về HPQ để phát hiện sớm, phòng ngừa và điều trị HPQ cho BN, cộng đồng, nhân viên y tế công và tư, đặc biệt là y tế cơ sở;

+ Phối hợp với các ngành có liên quan đến HPQ nghề nghiệp, nhà trường, các tổ chức đoàn thể xã hội, tuyên truyền giáo dục sức khoẻ về bệnh HPQ.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-  Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 204/QĐ-UBND ngày 28/01/2010. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh, các Trung tâm Y tế huyện, thị, các dịch vụ Y tế tư nhân trong tỉnh ứng dụng chăm sóc điều trị bệnh HPQ; Báo cáo trong các hội nghị khoa học kỹ thuật để chia sẻ kinh nghiệm với các đồng nghiệp trong và ngoài tỉnh về việc áp dụng GINA trong điều trị HPQ.

-  Tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông về phương pháp điều trị HPQ theo GINA.

-  Trên cơ sở Chương trình quản lý HPQ, Trung tâm phòng chống Lao và Bệnh phổi đã thực hiện một số chương trình khác như: chương trình quản lý COPD theo hướng dẫn của GOLD, Chương trình tư vấn cai thuốc lá, tầm soát các bệnh hô hấp cho bệnh nhân bị di chứng điều trị lao phổi.

Đặc biệt về kinh tế và môi trường: cảnh báo người dân cách phát hiện và phòng ngừa bệnh HPQ, cải thiện môi trường sống và làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống. Thay đổi kiến thức, thái độ hành vi đối với bệnh HPQ của nhân viên Y tế và cộng đồng. Các cơ quan chức trách quan tâm bảo vệ và cải thiện môi trường. Cho thấy vai trò của việc trang bị máy thăm dò chức năng hô hấp là cần thiết, hiệu quả và khả thi.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu, đánh giá sự suy thoái hệ sinh thái môi trường đất, đề xuất phương án sử dụng hợp lý, phục hồi tài nguyên và phát triển bền vữngNghiên cứu, đánh giá sự suy thoái hệ sinh thái môi trường đất, đề xuất phương án sử dụng hợp lý, phục hồi tài nguyên và phát triển bền vững
Đồng chủ nhiệm đề tài: GS.TSKH. Lê Huy Bá, KS. Nguyễn Văn Quản Cơ quan chủ trì: Sở NN&PTNT Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2007 - 2009 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 556,27 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Phát hiện, đánh giá quá trình thoái hóa đất nông nghiệp và đất đô thị (do xói mòn, bạc màu, mất hữu cơ và ô nhiễm). Đề xuất biện pháp ngăn chặn, sử dụng đất hợp lý, bền vững, nâng cao năng suất cây trồng và quyền lợi của người dân nông thôn và vùng ven đô.

Tạo hệ thống cơ sở dữ liệu và bản đồ, giúp quản lý, chỉ đạo nhanh, cập nhật và hữu hiệu tài nguyên đất của tỉnh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Khảo sát và thu thập, biên hội tài liệu về hiện trạng môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội của tỉnh Tây Ninh.

Biên hội số liệu, lập tiền dữ liệu về tài nguyên môi trường sinh thái đất Tây Ninh.

Điều tra khảo sát quá trình xói mòn đất dốc Tây Ninh trên nhiều loai đất và nhiều độ dốc khác nhau.

Điều tra và khảo sát quá trình bạc màu hóa đất trong hệ sinh thái cây khoai mì, mía, đậu phộng, lúa, vườn cây ăn trái Tây Ninh.

Điều tra và khảo sát quá trình mất chất hữu cơ ở các vùng đất thung lũng ven sông Vàm Cỏ Đông, kênh rạch, các bưng trũng cục bộ, xung quanh hồ Dầu Tiếng thuộc tỉnh Tây Ninh.

Đánh giá suy thoái đất trên từng vùng sinh thái nông, lâm nghiệp.

Điều tra tập quán, kinh nghiệm sản xuất, vận dụng, kết hợp kết quả nghiên cứu, xây dựng mô hình sử dụng đất tối ưu.

Xác định mức độ suy thoái môi trường sinh thái và suy giảm tài nguyên đất bằng, điều tra năng suất, chất lượng cây trồng theo thời gian.

Xác định mức độ nhiễm đất do chất thải đô thị và công nghiệp vùng ngoại thành, vùng xung quanh các khu công nghiệp tỷ lệ bản đồ 1/50.000.

Thiết lập chuỗi số liệu tài nguyên môi trường để diễn tả tốc độ, chiều hướng suy thoái.

Thành lập các bản đồ suy thoái đất.

Phân vùng suy thoái tổng hợp toàn tỉnh trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000.

Xây dựng phương án khảo nghiệm sử dụng đất tối ưu trên máy tính.

Xây dựng và thử nghiệm phương pháp pilot xói mòn, bạc màu và mất chất hữu cơ tại một số điểm “nóng”.

Đánh giá rủi ro môi trường đất (do ô nhiễm, mất dưỡng chất, sụt lỡ đất, nứt đất).

Xây dựng phương án khảo nghiệm nhanh bằng phương pháp sử dụng đất tối ưu trên thực địa theo từng hệ sinh thái đất, trên cơ sở bài toán kinh tế sinh thái nông nghiệp.

Đề xuất các thông số chỉ thị cho phát triển bền vững hệ sinh thái môi trường đất nông nghiệp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đề tài đã điều tra, nghiên cứu xây dựng thành lập bản đồ hiện trạng nhằm đánh giá mức độ suy thoái đất, đề xuất một số vấn đề phục vụ cho việc sử dụng bền vững tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh như sau: Vấn đề xói mòn đất; bạc màu hoa đất; mất chất hữu cơ; chất thải đô thị và công nghiệp ảnh hưởng lên môi trường đất và đề xuất một số kiến nghị cần thực hiện.

+ Mức độ thoái hóa đất được thể hiện ở một số vấn đề: xói mòn đất, bạc màu hóa đất, mất chất hữu cơ, chất thải đô thị và công nghiệp;

+ Quá trình xói mòn diễn ra trên tỉnh Tây Ninh hầu như thấp so với các khu vực khác trong vùng Đông Nam Bộ. Nếu đi từ Đông Bắc xuống Tây Nam, địa hình có xu hướng thấp dần, nên cường độ xói mòn ít dần. Đối với khu vực Núi Bà Đen, địa hình cao, độ dốc lớn, rất dễ xãy ra xói mòn;

+ Tài nguyên đất Tây Ninh phần lớn là nhóm đất xám (chiếm tới 85,65% tổng diện tích đất tự nhiên), nhóm đất này nghèo dưỡng chất, thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước, giữ màu kém, hàm lượng mùn, vi sinh vật trong đất thấp. Điều này gây bất lợi lớn đối với cây trồng;

+ Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng, Tây Ninh có 5 nhóm đất chính với 15 loại đất khác nhau. Trong đó, ba nhóm đất tập trung khai thác cho sản xuất đất nông nghiệp là: xám - phèn - phù sa.

Một số khu vực có biểu hiện của quá trình bạc màu như: xã Mỏ Công, Trà Vong, Thạnh Bình, Tân Bình (huyện Tân Biên), Thạnh Đông, Tân Hà, Tân Thành, Tân Hòa (huyện Tân Châu), Long Khánh, Long Phước, Long Giang (huyện Bến Cầu), Phước Minh, Phước Ninh, Bến Củi (huyện Dương Minh Châu), Ninh Sơn (thị xã Tây Ninh), Thạnh Đức (huyện Gò Dầu), Đôn Thuận (huyện Trảng Bàng), Trường Đông (huyện Hòa Thành).

Hàm lượng nitơ tổng số trong đất ở Tây Ninh là rất thấp cả vào mùa mưa lẫn mùa khô; ở tầng nông, mùa mưa chỉ từ 0,0011- 0,0153% và mùa nắng từ 0,0001- 0,002%, độ phì nhiêu tiềm tàng của đất kém.

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa gây ảnh hưởng đến tính chất lý học, hóa học của đất. Đặc biệt là các loại chất thải nguy hại, độc tính cao, khó phân hủy sinh học, tích lũy trong đất với thời gian dài gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đất.

Biện pháp chống xói mòn, ngăn ngừa sự cạn kiệt nguồn dinh dưỡng trong đất và giảm sự lạm dụng quá mức đất canh tác: lĩnh vực nông nghiệp: chọn thời vụ thích hợp, bón phân, phủ đất; lâm nghiệp: trồng rừng trên đồi núi và dọc ven hồ Dầu Tiếng, theo hệ thống kênh rạch Tây Ninh; hóa học kết hợp với sinh học: dùng chất liên kết màng và cây cỏ che phủ mặt đất quanh năm;

+ Thực hiện công tác quy hoạch đưa các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ra khỏi khu dân cư. Xử phạt nghiêm khắc các cơ sở sản xuất, đơn vị gây ô nhiễm, nhằm ngăn ngừa lây lan chất ô nhiễm từ các hoạt động của đô thị và khu công nghiệp;

+ Duy trì và phục hồi độ phì nhiêu của đất; luân xen canh cây hoa màu; làm bờ thửa cho nhóm đất xám trên phù sa cổ; cải tạo nhóm đất phèn; đẩy mạnh công tác xã hội, khuyến nông, sử dụng và quản trị đất đai đúng hướng.

Các phần mềm cơ sở dữ liệu dễ sử dụng và là công cụ phục vụ quản lý; hệ thống các bản đồ tỷ lệ 1/50.000 về tiềm năng xói mòn, hiện trạng đất bạc màu, hiện trạng mất hữu cơ, chất lượng môi trường đất.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 854/QĐ-UBND ngày 19/4/2011. Kết quả nghiên cứu đã đóng gop vào cơ sở dữ liệu về đất ở Tây Ninh phục vụ các nghiên cứu có liên quan như: đánh giá các quá trình suy thoái tài nguyên môi trường đất nông nghiệp; định hướng phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra tình hình sức khỏe đối với phụ nữ áp dụng Kế hoạch hóa Gia đình ở vùng nông thôn Tây Ninh và đề xuất các biện pháp cải thiệnĐiều tra tình hình sức khỏe đối với phụ nữ áp dụng Kế hoạch hóa Gia đình ở vùng nông thôn Tây Ninh và đề xuất các biện pháp cải thiện
Chủ nhiệm đề tài: ThS. BS. Huỳnh Văn Tú Cơ quan chủ trì: Trung tâm Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em và Kế hoạch hóa gia đình Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 98,4 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-  Xác định hiệu quả sử dụng biện pháp tránh thai đối với phụ nữ vùng nông thôn Tây Ninh, theo 2 mô hình cung cấp biện pháp tránh thai: mô hình hiện nay tại Tây Ninh và mô hình chất lượng chăm sóc (CLCS). Cụ thể xác định:

-  Tỷ lệ phụ nữ có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về biện pháp tránh thai đang áp dụng ở mỗi mô hình.

-  Tỷ lệ phụ nữ liên tục sử dụng biện pháp tránh thai ở mỗi mô hình.

-  Tỷ lệ phụ nữ bị tai biến, biến chứng liên quan đến việc sử dụng biện pháp tránh thai ở mỗi mô hình.

-  Tỷ lệ phụ nữ hài lòng với biện pháp tránh thai đang áp dụng ở mỗi mô hình.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Phỏng vấn thăm dò ý kiến của phụ nữ trong tỉnh về biện pháp tránh thai; khảo sát cơ sở lâm sàng cung cấp biện pháp tránh thai; khảo sát cán bộ cộng đồng cung cấp biện pháp tránh thai.

-  Mở “Hội nghị triển khai nghiên cứu mô hình CLCS”.

-  Tập huấn triển khai can thiệp CLCS trong kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) và thực hiện cải thiện CLCS theo vấn đề (bài tập COPE).

-  Xây dựng chuyên đề về CLCS và nội dung can thiệp CLCS trong dịch vụ KHHGĐ; hiểu biết hiện nay về biện pháp tránh thai phổ biến; hướng dẫn quy trình theo dõi, xử lý tác dụng phụ, tai biến; bộ công cụ, phương pháp cải thiện CLCS theo vấn đề.

-  Triển khai nghiên cứu tại 9 xã can thiệp.

-  Thực hiện 4 lược giám sát hỗ trợ triển khai mô hình can thiệp tại 9 xã.

-  Thu thập số liệu nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Đối tượng nghiên cứu chính là những phụ nữ sử dụng BPTT, cán bộ cộng đồng (những cán bộ cơ sở trực tiếp cung cấp BPTT phi lâm sàng: thuốc viên và bao cao su tránh thai), cán bộ y tế cơ sở (những người trực tiếp cung cấp BPTT lâm sàng: dụng cụ tử cung, thuốc tiêm tránh thai).

-  Tổng cộng tham gia nghiên cứu trong giai đoạn 1 có 288 đối tượng; giai đoạn 2 có 612 đối tượng, 262 cán bộ cộng đồng (CBCĐ), 88 cán bộ y tế; giai đoạn 3 có 593 đối tượng, 256 CBCĐ, 93 cán bộ y tế;

-  Kết quả khảo sát CBCĐ: có tất cả 262 cán bộ được phỏng vấn trong giai đoạn 2; hầu hết là nữ, có độ tuổi trung bình trên 40 tuổi, học vấn cấp 2, được tập huấn KHHGĐ 2 khóa trở lên; hơn 50% có kinh nghiệm làm việc từ 4 năm trở lên, có kiến thức thái độ, thực hành cấp phát phương tiện tránh thai đạt yêu cầu. Hạn chế CBCĐ không xem sự ưa thích biện pháp của khách hàng là yếu tố quan trọng, ít khi sử dụng bảng kiểm sàng lọc chống chỉ định viên tránh thai, không hướng dẫn đúng cách sử dụng viên tránh thai, không hướng dẫn đúng thời gian kiêng giao hợp trong biện pháp tính chu kỳ, đúng cách sử dụng bao cao su tránh thai.

-  Kết quả khảo sát cán bộ y tế: tổng số có 88 cán bộ y tế cơ sở được phỏng vấn trong giai đoạn 02; 93 CBYT trong giai đoạn 3; đa số là nữ trong độ tuổi 35 - 44, hơn 50% được cập nhật chuyên môn trong vòng 2 năm; hơn 2/3 CBYT cho rằng BPTT phù hợp với khách hàng trong quá trình sử dụng, luôn có đủ phương tiện tránh thai và tư vấn tốt là những yếu tố quan trọng nhất;

-  Kết quả khảo sát đối tượng sử dụng BPTT.

+ Trong giai đoạn 1: có 288 đối tượng được chọn vào nghiên cứu, đều có quá trình sử dụng một BPTT hiện đại từ 9 - 12 tháng trước thời điểm phỏng vấn; tuổi trung bình 32,98; số năm đi học trung bình 6,7; số con còn sống trung bình 2,06; đối tượng có thái độ đúng về BPTT chiếm tỉ lệ 95%; thực hành đúng BPTT là 68,1%; họ cảm thấy thật sự hài lòng với BPTT đang áp dụng là 90,2%;

+ Trong giai đoạn 2 và 3: nghiên cứu trên 612 cặp/vợ chồng tại 18 xã của 9 huyện, thị trong thời gian 1 năm: tỉ lệ đối tượng có kiến thức đúng về BPTT đang áp dụng (lô can thiệp: 64,5%; lô chứng: 36% với p<0,001); tỉ lệ đối tượng có thực hành đúng về BPTT đang áp dụng (lô can thiệp: 95,6%; lô chứng: 87,4% với p<0,001); tỉ lệ đối tượng hài lòng về BPTT đang áp dụng (lô can thiệp: 96,3%; lô chứng: 91,8% với p<0,05);

+ Nghiên cứu trên 593 đối tượng, tỉ lệ đối tượng có tai biến về BPTT đang áp dụng (lô can thiệp: 1,7%; lô chứng: 1,3% với p>0,05). Tại thời điểm thu thập số liệu ở giai đoạn 3, có 5 đối tượng ngưng BPTT để sanh thêm con, do đó chỉ còn có 588 đối tượng được xem xét có liên tục sử dụng BPTT không, kết quả: lô can thiệp là 97,9%; lô đối chứng là 90,8% (p>0,05).

-  Xây dựng được mô hình CLCS.

-  Khẳng định việc nâng cao CLCS trong dịch vụ tránh thai tại Tây Ninh là khả thi, ít tốn kém và cải thiện đáng kể hiệu quả sử dụng biện pháp tránh thai. Vì thế, mô hình CLCS có thể triển khai ứng dụng rộng rãi đến tất cả các cơ sở cung cấp dịch vụ tránh thai trong tỉnh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 42/QĐ-UBND ngày 01/02/2007. Kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào dịch vụ tránh thai tại các cơ sở y tế công; góp phần làm tăng kiến thức, tăng tỷ lệ phụ nữ sử dụng liên tục biện pháp tránh thai, giảm tỷ lệ nạo hút thai ngoài kế hoạch.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Danh mục các đề tài, dự án cấp Tỉnh được phê duyệt năm 2012Danh mục các đề tài, dự án cấp Tỉnh được phê duyệt năm 2012
Ngày 12/01/2012, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh chính thức phê duyệt danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2012 tại Quyết định số 82/QĐ-UBND

 

Danh mục gồm 18 đề tài và dự án:

I. Lĩnh vực khoa học xã hội

1. Xây dựng chương trình và biên soạn giáo trình địa phương học cho các lớp đào tạo trung cấp lý luận chính trị - hành chính tại trường Chính trị tỉnh Tây Ninh

    Cơ quan chủ trì: Trường Chính trị tỉnh Tây Ninh.

2. Nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng của Game online đến sự phát triển nhân cách của học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh.

3. Xây dựng quy trình cơ bản công tác kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên ở Đảng bộ tỉnh Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Tây Ninh.

II. Lĩnh vực khoa học Y, Dược

4. Điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc ở Vườn Quốc Gia Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây Ninh, phục vụ cho yêu cầu bảo tồn và phát triển.

    Cơ quan chủ trì: Vườn Quốc Gia Lò Gò – Xa Mát.

5. Chuyển giao quy trình sử dụng Mặt Nạ Thanh Quản trong Gây Mê Hồi Sức; Gây mê Phẫu thuật; và Gây mê – Phẫu thuật nội soi Tai Mũi Xoang.

    Cơ quan chủ trì: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh.

6. Sự đột biến trên hai gen EGFR và gen K-ras và mức độ methyl hóa của hai gen SFRP1 và CDX1 trong ung thư đại trực tràng ở người Việt Nam.

    Cơ quan chủ trì: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh.

7. Khảo sát kiến thức – thái độ về sức khỏe sinh sản của học sinh khối THPT trên địa bàn Tây Ninh năm 2011.

    Cơ quan chủ trì: Trung tâm Y tế Thị xã Tây Ninh.

8. Triển khai kỹ thuật sinh học phân tử (PCR) trong xét nghiệm chẩn đoán bệnh dịch (cúm, sốt xuất huyết, tả và tay chân miệng) tại Trung tâm y tế dự phòng Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Trung tâm Y tế Dự phòng Tây Ninh.

9. Triển khai kỹ thuật tẩy sỏi thận qua da tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh.

III. Lĩnh vực khoa học Nông nghiệp

10. Ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất sản phẩm thức ăn ủ chua từ phụ phẩm nông nghiệp phục vụ chăn nuôi đại gia súc ở tỉnh Tây Ninh và vùng phụ cận.

      Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tây Ninh.

11. Khảo sát sản xuất một số giống sắn đạt năng suất tinh bột cao, thích hợp với sinh thái tỉnh Tây Ninh.

     Cơ quan chủ trì: Trung tấm Giống Nông nghiệp Tây Ninh.

12. Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật nâng cao sức sản xuất và sinh sản của Trâu tại Tây Ninh.

     Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tây Ninh.

13. Xây dựng các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng hiệu quả kinh tế trên vùng đất phèn tỉnh Tây Ninh.

     Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tây Ninh.

IV. Lĩnh vực khoa học nhân văn

14. Viết Hồi ký trường Hoàng Lê Kha (1962-1975).

     Cơ quan chủ trì: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tây Ninh.

15. Biên soạn Truyền thống trường Hoàng Lê Kha (1962-1975).

     Cơ quan chủ trì: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tây Ninh.

16. Biên soạn lịch sử Đảng bộ Khối cơ quan Dân chính Đảng từ khi thành lập đến năm 2010.

      Cơ quan chủ trì: Đảng ủy Khối cơ quan Dân chính Đảng.

17. Lịch sử Đảng bộ Quân sự tỉnh Tây Ninh (1945-2010).

     Cơ quan chủ trì: Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tây Ninh.

18. Lịch sử trường Quân sự tỉnh Tây Ninh (1945-2010).

     Cơ quan chủ trì: Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tây Ninh.

 

Quyết định và Danh mục cụ thể kèm theo

 

 

 

 

 

03/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công  nhận sáng kiến cấp tỉnhCông  nhận sáng kiến cấp tỉnh
Ngày 28/3/2017, Ủy ban dân tỉnh ban hành Quyết định số 690/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh.

Theo đó, có 4 đề tài được xét đặc cách và 43 sáng kiến được công nhận (03 sáng kiến được xếp loại A, 33 sáng kiến được xếp loại B và 07 sáng kiến được xếp loại C). Đây cũng là điều kiện để xét công nhận đạt danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh".

Danh sách công nhận sáng kiến kèm theodanhsachcongnhansangkienct.rar

                                                                                        KGVX

04/04/2017 8:00 SAĐã ban hành
Nâng dần tỷ trọng sản xuất nông nghiệp công nghệ caoNâng dần tỷ trọng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu với quy mô lớn hơn để hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu về ứng dụng công nghệ cao nhằm tăng hiệu quả, khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng của người tiêu dùng.…


 

Các loại hoa được trồng trong nhà kính ở Đà Lạt với công nghệ và quy trình nghiêm ngặt đã cho hiệu quả cao

Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu với quy mô lớn hơn để hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu về ứng dụng công nghệ cao nhằm tăng hiệu quả, khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng của người tiêu dùng.…

 Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước hiện có 29 khu nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) được xây dựng và đưa vào quy hoạch tại 12 tỉnh, thành phố, qua đó đã hình thành một số mô hình phát triển NNCNC, làm tiền đề cho việc phát triển các vùng NNCNC như mô hình sản xuất rau an toàn, trồng hoa, cây cảnh tại TP.HCM, Bắc Ninh, Lâm Đồng; mô hình sản xuất nấm quy mô trang trại tại Vĩnh Phúc…. Ngoài ra, đã hình thành được các vùng chuyên canh sản xuất, chế biến các sản phẩm từ sữa tại Hà Nội, Nghệ An, TP.HCM; vùng trồng chè theo công nghệ của Đài Loan tại Thái Nguyên, Lâm Đồng…. Cùng với đó là hàng loạt công nghệ mới như tạo giống, nhà kính, nhà lưới, vườn ươm, kho mát bảo quản, đóng gói rau, hoa trình độ cao với phương thức, kỹ thuật và quy trình sản xuất đồng bộ giúp nâng cao năng suất, ổn định giá thành và chất lượng sản phẩm; giá trị sản xuất đạt 500 triệu - 1 tỷ đồng/ha.…

 Cụ thể như tại TP.HCM, Công ty liên doanh Hạt giống Đông Tây đã đầu tư được trại sản xuất hạt giống rau F1 đạt tiêu chuẩn cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Còn tại tỉnh Lâm Đồng, đến hết năm 2013 đã có gần 35 nghìn ha đất sản xuất NNCNC với giá trị sản xuất rau cao cấp đạt bình quân 400 triệu đồng/ha; hoa cao cấp đạt 800 triệu - 1 tỷ đồng/ha, đặc biệt là các loại hoa được trồng trong nhà kính ở Đà Lạt với công nghệ và quy trình nghiêm ngặt cho hiệu quả cao. Tại tỉnh Sơn La, dự án khu NNCNC cũng đã được triển khai xây dựng tại huyện Mộc Châu với quy mô 200ha, áp dụng các công nghệ tiên tiến như trồng rau bằng kỹ thuật thủy canh; trồng một số loại rau, hoa nhập ngoại và canh tác trên đất có phủ màng hoặc trên giá thể không đất; công nghệ nuôi cấy mô cho rau, hoa lily, hoa lan. Hàng loạt các quy trình như sản xuất trong nhà kính, nhà lưới, thiết bị tưới phun, tưới nhỏ giọt, điều chỉnh ánh sáng, nhiệt độ, chất dinh dưỡng, nước… đều đã được đầu tư đồng bộ, tự động hóa.…

Ông Nguyễn Văn Tiến, Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp nông thôn - Ban Kinh tế Trung ương nhận định: Những kết quả nghiên cứu, đầu tư ứng dụng công nghệ cao đã có đóng góp quan trọng làm tăng năng suất, sản lượng nông nghiệp cho Việt Nam trong một vài năm qua. Tuy nhiên, hoạt động của các khu NNCNC còn rất hạn chế do đầu tư chưa đồng bộ, tập trung; cơ chế hỗ trợ, thu hút doanh nghiệp còn thiếu tính hấp dẫn, tính cạnh tranh của sản phẩm chưa cao. “Bên cạnh đó, việc lựa chọn mô hình, sản phẩm, công nghệ để sản xuất chưa phù hợp; chi phí vận hành quá cao dẫn đến sản xuất không hiệu quả. Một số khu NNCNC ở Hải Phòng, Hà Nội… được đầu tư hàng chục tỷ đồng để nhập công nghệ trọn gói của nước ngoài nhưng chưa được thành công như mong muốn” - ông Tiến nói.

Do vậy, cùng với việc tổ chức bài bản, khoa học để sản xuất NNCNC từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, tới đây, các địa phương, doanh nghiệp cần xem xét đầu tư hợp lý để không chỉ ứng dụng được công nghệ tiên tiến vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp của địa phương mà còn có thể phát huy được những thế mạnh về tài nguyên đất đai, điều kiện tự nhiên sẵn có.

Một vấn đề khác được đặt ra là bảo vệ bản quyền giống trong quá trình triển khai NNCNC, bởi theo ông Nguyễn Văn Bảo - Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH Agrivina: Mặc dù Việt Nam đã là thành viên của Hiệp hội Quốc tế bảo vệ bản quyền giống cây trồng mới (UPOV) từ năm 2006, nhưng đến nay việc bảo vệ bản quyền vẫn không được thực hiện nghiêm túc. Ông Bảo cho biết: Hiện một số doanh nghiệp và nhất là các hộ nông dân tại tỉnh Lâm Đồng sử dụng giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc, xuất xứ; tùy tiện nhân giống dẫn đến sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các doanh nghiệp, đồng thời làm ảnh hưởng đến việc nghiên cứu, lai tạo và sản xuất các loại giống rau, hoa mới của doanh nghiệp.…

 Trong thời gian tới, phát triển NNCNC cần tập trung vào các mục tiêu trọng tâm như: Chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi; phát triển số lượng doanh nghiệp và cung ứng dịch vụ NNCNC, đặc biệt là tạo điều kiện cho phát triển doanh nghiệp NNCNC.

Mục tiêu cụ thể từ nay đến năm 2015, theo ông Nguyễn Tấn Hinh - Vụ phó Vụ Khoa học công nghệ và môi trường - Bộ NN&PTNT, là sẽ từng bước xây dựng và hình thành cho được nền NNCNC, trong đó, trọng tâm là phát triển số doanh nghiệp NNCNC và vùng sản xuất, phấn đấu đến năm 2015, mỗi tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm sẽ xây dựng được từ 3-5 doanh nghiệp, 2-3 vùng sản xuất NNCNC, qua đó từng bước sản xuất một số sản phẩm nông nghiệp hàng hóa ứng dụng công nghệ cao, có năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao; nâng tỷ trọng giá trị sản xuất NNCNC chiếm từ 10-15% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước.

                                                                                                 Báo Công Thương

05/08/2014 5:00 CHĐã ban hành
Giải pháp tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại tỉnh Tây NinhGiải pháp tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại tỉnh Tây Ninh
Ngày 10/4/2015, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh đã tổ chức nghiệm thu đề tài cấp tỉnh: “Giải pháp tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại tỉnh Tây Ninh” do Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh chủ trì thực hiện.

Hội đồng nghiệm thu đề tài có sự tham dự của bà Phạm Thị Lan Hương – GĐ Sở KH&CN, Chủ tịch Hội đồng; bà Phan Thị Điệp – PCT Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh, PCT Hội đồng; TS. Nguyễn Ngọc Dũng - Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Tây Ninh và CN Dương Thị Thu Hiền – CT Liên hiệp các Hội KH&KT Tây Ninh tham gia phản biện cùng các thành viên đang công tác tại các Sở, ngành có liên quan.

Với nội dung nghiên cứu đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo ở 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) và đề xuất các giải pháp để tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại Tây Ninh.  Giúp cho cấp ủy, chính quyền các cấp nhận thức rõ hơn về vai trò công tác cán bộ nữ lãnh đạo các cấp.

Các thành viên Hội đồng thống nhất đề tài sẽ là căn cứ khoa học định hướng cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng các cấp nhằm thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW ngày 30/5/2014 của Bộ Chính trị về tỷ lệ cán bộ nữ, đồng thời là cơ sở để các cấp ủy đảng, chính quyền vận dụng các giải pháp tăng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý vào công tác xây dựng đề án đào tạo, bố trí cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý của đơn vị. Tuy nhiên, Hội đồng đề nghị Ban chủ nhiệm đề tài bổ sung và hoàn chỉnh báo cáo theo góp ý của các thành viên Hội đồng và phản biện trước khi trình phê duyệt công nhận kết quả.

 Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại: Xuất sắc.

Phòng TT – SHTT

16/04/2015 4:00 CHĐã ban hành
Đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018Đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018
Nhằm xây dựng nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) năm 2018 phục vụ thiết thực mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, giải quyết những vấn đề cấp thiết của ngành và địa phương, nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN vào thực tiễn. Sở KH&Cn Tây Ninh xin thông báo đến các tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN và các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đề xuất nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh thực hiện năm 2018.

Toàn văn thông báo:  Tải về TB-De xuat DTDA 2018( trinhky-13.12)_Signed.pdf

Biểu mẫu:  Tải về BM de xuat DA MN NT 2018.doc


​Theo sokhcn.tayninh.gov.vn

16/02/2017 4:00 CHĐã ban hành
Khảo sát, đánh giá biện pháp can thiệp cộng đồng tăng huyết áp ở người lớn tại Tây NinhKhảo sát, đánh giá biện pháp can thiệp cộng đồng tăng huyết áp ở người lớn tại Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: BS CKI. Đào Thị Lan Cơ quan chủ trì: Sở Y tế Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2005 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 339,099 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-  Đánh giá tình hình bệnh tăng huyết áp (THA) ở người lớn ( ≥18 tuổi) tại tỉnh Tây Ninh năm 2005 - 2006.

-  Đánh giá tỷ lệ giảm tác hại của người bệnh sau khi can thiệp tại cộng đồng bằng các hình thức thay đổi lối sống có nguy cơ bệnh và cách sử dụng thuốc. Cụ thể xác định:

+ Tỷ lệ bệnh THA ở người lớn ( ≥18 tuổi)

+ Tỷ lệ người ≥18 tuổi đã biết mình có bệnh THA

+ Tỷ lệ người ≥18 tuổi THA có điều trị bệnh.

+ Tỷ lệ người ≥18 tuổi THA có điều trị và đạt hiệu quả kiểm soát được huyết áp.

+ Mối liên quan giữa THA với các yếu tố: giới, tuổi, nghề nghiệp, dân tộc, trình độ học vấn, béo phì, ăn mặn, hút thuốc, uống rượu, hoạt động thể lực, tiền sử gia đình.

+ Tỷ lệ chấp nhận điều trị và tỷ lệ kiểm soát được huyết áp của các trường hợp mới mắc theo sơ đồ điều trị THA của JNC VII sau 3 tháng và 6 tháng.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên cơ sở lấy 3.600 mẫu từ 30 cụm xã, phường, thị trấn của toàn tỉnh. Các đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn và đo huyết áp từ một bản câu hỏi định sẵn. Các đối tượng có kết quả chuẩn đoán THA được đưa vào mẫu can thiệp điều trị bằng biện pháp thay đổi lối sống hoặc bằng thuốc và được đánh giá hiệu quả mỗi 3 tháng một lần.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Bảng số liệu bao gồm: số liệu về đối tượng nghiên cứu; tỷ lệ THA ở người ≥18 tuổi tại tỉnh Tây Ninh, người đã biết mình có bệnh THA, người THA có điều trị và đạt hiệu quả kiểm soát được huyết áp.

Qua nghiên cứu 3.600 người ≥18 tuổi đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; và mẫu nghiên cứu 361 bệnh nhân THA phát hiện được qua điều tra tại 30 xã, phường, thị trấn trong tỉnh có kết quả:

-  Tuổi trung bình 42,82 ±17,09; nam chiếm 42%, nữ chiếm 58%; dân tộc Kinh chiếm 98,2%; trình độ học vấn từ cấp 1 trở xuống chiếm hơn 50%, cấp 2 và 3 chiếm 27,9%, đại học và sau đại học chiếm 2%; lao động chân tay chiếm tỷ lệ cao 53,56%.

+ Tỷ lệ THA tăng dần theo tuổi, tuổi càng cao thì tỷ lệ THA càng cao, ở nhóm tuổi trên 60 tuổi thì tỷ lệ THA rất cao 42,9%; tỷ lệ THA ở nam (15%) cao hơn nữ (12,8%), người có học vấn (chưa tốt nghiệp tiểu học) có tỷ lệ THA 50,7%; người lao động chân tay và những lao động khác có tỷ lệ THA cao hơn lao động trí óc;

-  Tỷ lệ THA chung là 13,8%; tỷ lệ người ≥18 tuổi biết mình có THA là 11,8%; tỷ lệ người biết mình THA có điều trị bằng thuốc là 58,4%.

-  Báo cáo phân tích mối liên quan giữa THA với các yếu tố: giới, tuổi, nghề nghiệp, béo phì, ăn mặn, hút thuốc, uống rượu, hoạt động thể lực, tiền sử gia đình.

Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh THA được ghi nhận: Béo phì, ăn mặn, hút thuốc lá, uống rượu bia, tầng suất uống rượu/bia, tiền sử bệnh ĐTĐ.

+ Đa số sử dụng dầu thực vật trong nấu ăn (87,8%), chỉ 6,7% dùng mở động vật; người dân cũng có thói quen dùng xen kẽ nhiều loại dầu mỡ khi nấu ăn (4,6%); dùng bơ động vật trong nấu ăn chiếm tỉ lệ rất thấp 0,1%. Người THA có tỷ lệ béo phì cao hơn người không THA ở tất cả các tầng, không có yếu tố gây nhiễu, học vấn là yếu tố tương tác.

+ Tỷ lệ ăn mặn theo đánh giá và nhận xét của những người xung quanh là 24,3% và tỷ lệ ăn hàng ngày các món mặn, nhiều muối rất cao 70,58%. Người bệnh THA có tần suất ăn mặn thấp hơn người không THA ở tất cả các tầng, không có yếu tố nào làm thay đổi tác động và gây nhiễu.

+ Tỷ lệ có hút thuốc lá 23% trong quá khứ và 27% hút hiện tại. Đây là một tỷ lệ khá cao; số năm hút thuốc trung bình rất cao 22,58 năm; tuổi bắt đầu hút thuốc thường xuyên hàng ngày 21,5 tuổi; loại thuốc hút là thuốc điếu chiếm 92%, thuốc rê, thuốc lào ít phổ biến hơn.

Người THA có tỷ lệ hút thuốc lá hiện tại cao hơn người không THA ở tất cả các tầng, giới tính là yếu tố tương tác lên tỷ lệ hút thuốc lá, tuổi là yếu tố gây nhiễu trên tỷ lệ hút thuốc lá.

+ Tỷ lệ có đo đường huyết trong 12 tháng 26,2%; tỷ lệ ĐTĐ 4,5%; tỷ lệ có uống rượu bia khá cao, chiếm tỷ lệ 25,3%. Trong đó, 36,8% uống ít thường xuyên và 35,2% uống mỗi tuần, 10,7% uống hàng ngày. Số lượng ly uống mỗi lần trung bình 3,77 ly. Người bệnh THA có tần suất uống rượu bia cao gấp 2 lần người không THA ở tất cả các tầng, không có yếu tố nào làm thay đổi tác động, tuổi là yếu tố gây nhiễu.

-  Tỷ lệ bệnh nhân đạt HA mục tiêu bằng biện pháp can thiệp cộng đồng sau 3 tháng và sau 6 tháng lần lượt là 53,3% và 73,5%.

-  Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ THA giữa các nhóm: tuổi, giới, nghề nghiệp và trình độ học vấn.

-  Điều trị bằng biện pháp không dùng thuốc: ngưng hút thuốc sau 3 tháng và 6 tháng lần lượt là 33,6% và 43%; ngưng uống rượu hoặc giảm rượu là 81,1% và 90,7%; tăng vận động (đi bộ là 62,1% và 84,6%; đi xe đạp; tập thể dục hằng ngày); thực hiện chế độ ăn giảm muối.

-  Điều trị bằng biện pháp dùng thuốc: uống thuốc điều đặn đạt khoảng > 90%; 94,6 % bệnh nhân uống đủ liều; 88,7 % đến khám đúng hẹn.

-  Mô hình chăm sóc sức khỏe người THA.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG:

-  Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 80/QĐ-UBND ngày 14/01/2008. Kết quả nghiên cứu được các Trung tâm Y tế 08 huyện và thị xã ứng dụng trong điều trị và quản lý người bệnh THA.

-  Trong tháng 12/2011, Trung tâm Y tế huyện Dương Minh Châu (DMC) đã tiến hành tập huấn triển khai ứng dụng kết quả cho các bác sỹ, điều dưỡng của 09 huyện, thị và Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh (có 57 người tham dự), riêng 10 trạm y tế xã của huyện DMC có 33 người tham dự; từ tháng 6/2012 đến 11/2012, tỷ lệ người được tư vấn của 10 trạm y tế trung bình là 69,78%/tháng. Tổng số lần tư vấn từ tháng 6 - 11/2012 là 6.587 lần với tổng số tờ rơi phát ra 5.738 tờ; Trung tâm y tế huyện Gò Dầu đã tư vấn được 331 bệnh nhân và phát ra được 24 tờ rơi.

-  Hiện nay ở mỗi đơn vị ứng dụng đều có phòng tư vấn để phục vụ cho công tác triển khai, Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh có 02 phòng, 09 Trung tâm y tế huyện đều có 09 phòng, 10 trạm y tế xã thuộc huyện DMC có 10 phòng.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Danh mục các đề tài, dự án cấp Tỉnh được phê duyệt năm 2013Danh mục các đề tài, dự án cấp Tỉnh được phê duyệt năm 2013
Ngày 21/02/2013, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh chính thức phê duyệt danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2013 tại Quyết định số 334/QĐ-UBND

 

 

Danh mục gồm 09 đề tài và dự án:

I. Lĩnh vực khoa học xã hội

1. Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận cơ sở tỉnh Tây Ninh

    Cơ quan chủ trì: Ban Dân vận Tỉnh ủy Tây Ninh.

2. Giải pháp nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại tỉnh Tây Ninh từ nay đến năm 2020.

    Cơ quan chủ trì: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh.

3. Giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT tỉnh Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh.

4. Điều tra, nghiên cứu và xây dựng mô hình tổ chức hoạt động các trung tâm văn hóa, sinh hoạt cộng đồng xã, phường, thị trấn và nhà văn hóa ấp, khu phố trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Trung tâm Văn hóa tỉnh Tây Ninh.

5. Biên soạn tài liệu văn học địa phương tỉnh Tây Ninh để giảng dạy trong trường phổ thông.

    Cơ quan chủ trì: Sở Giáo dục và Đào tạo Tây Ninh.

II. Lĩnh vực khoa học và công nghệ

6. Điều tra, nghiên cứu biện pháp chẩn đoán, phòng trừ bệnh hại chính trên cây khoai mì tại Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường Đại học Nông Lâm.

7. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sau thu hoạch vào duy trì chất lượng và kéo dài thời gian bảo quản cho quả mãng cầu ta Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Tây Ninh.

III. Lĩnh vực khoa học Y, Dược

8. Đánh giá tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông tại Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Trung tâm Kiểm dịch Y tế Quốc tế Tây Ninh.

9. Đánh giá các yếu tố nguy cơ của những bệnh không lây ở Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Viện vệ sinh Y tế công cộng Tp.HCM

 

Quyết định và Danh mục cụ thể kèm theo

 

 

 

03/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra tập quán chôn cất, quy hoạch nghĩa trang và đề xuất mô hình hỏa tángĐiều tra tập quán chôn cất, quy hoạch nghĩa trang và đề xuất mô hình hỏa táng
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Hận Cơ quan chủ trì: Sở Khoa học và Công nghệ Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2002 - 2004 Thời gian nghiệm thu: năm 2006 Kinh phí thực hiện: 198,96 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Xuất sắc

         MỤC TIÊU

-  Quy hoạch việc chôn cất hài cốt tập trung, không sử dụng đất thổ để xây dựng mồ mả, hướng đến tập quán hỏa táng, phù hợp với nền văn minh mới hợp vệ sinh.

-  Quy hoạch nghĩa địa nhằm mục đích đảm bảo tình hình sử dụng đất, đảm bảo vệ sinh nguồn nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân, đảm bảo môi trường sinh thái nét đẹp mỹ quan đô thị.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung chính sau đây:

-  Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - hội.

-  Điều tra, khảo sát hiện trạng chôn cất, phân tích môi trường (đất nước).

-  Thống xử số liệu.

-  Xây dựng hình toán về tốc độ tăng dân số theo tỷ lệ chết.

-  Lập số hóa các loại bản đồ bằng phương pháp GIS.

-  Xây dựng bản đồ quy hoạch nghĩa trang trên phần mềm Mapinfo.

-  Tham quan đề xuất biện pháp hỏa táng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sở Khoa học Công nghệ Tây Ninh đã tiến hành điều tra với số lượng 7.772 phiếu về việc hỏa táng: chỉ 18,6% đồng ý; 5% đồng ý nếu như Nhà nước chính sách hỗ trợ cho người nghèo.

-  Ý kiến của các đoàn thể tôn giáo đa số đồng ý với hình thức hỏa táng; do vậy với sự tác động của các tổ chức này, tâm về chôn cất của người dân dần dần sẽ thay đổi.

-   Phương pháp hỏa táng: phương pháp dùng nhiệt độ cao (khoảng 600- 10000C) đốt xác người cùng với quan tài các vật liệu tẩm liệm thành tro, xương người khi đó bị cháy thành các mảnh vụn. Một phần tro xương sau đó được cho vào hủ kín để thờ phụng hoặc đem rải xuống sông, hồ.

 

 

 

-  Công nghệ hỏa táng theo nhiên liệu đốt (củi, dầu, điện, gas) xử khói bằng phương pháp đốt bổ sung (đốt lại), gồm hai giai đoạn: giai đoạn đầu (buồng đốt cấp), nhiệt độ cháy được giữ 600 - 9000C, giai đoạn thứ hai (buồng đốt thứ cấp), nhiệt độ 900 - 1.1000C được kiểm soát để tạo ra các sản phẩm cháy hoàn toàn.

-  Thiết bị: phù hợp với đặc thù của tỉnh, đảm bảo tính công nghệ tiên tiến, an toàn bảo vệ môi trường; một số thiết bị chuyên dùng: điện ABB của Thụy Sĩ, gas Pyrox của Canada, hỏa táng Power - pak II của Mỹ.

Qua quá trình thu thập thông tin, dữ liệu điều tra, khảo sát nghiên cứu hiện trạng nghĩa địa, nghĩa trang trên địa bàn tỉnh, đề tài đã đề xuất được hình hỏa táng xây dựng Trung tâm hỏa táng Tây Ninh trực thuộc Sở lao động, Thương binh hội tỉnh Tây Ninh với công nghệ đốt Power - Pak của Mỹ với nguyên liệu đốt gas. Đây một trung tâm hoạt động công ích thu, đóng góp cho hội về mặt nhân đạo, từ thiện bảo vệ môi trường.

Địa điểm của Trung tâm hỏa táng đáp ứng được nhu cầu của nhiều địa phương, rộng rãi, thoáng, yên tĩnh, trang nghiêm thuận tiện cho đi lại, bố cục kiến trúc hợp lý, tính dân tộc, phù hợp với đặc thù của tỉnh, sạch đẹp tạo ấn tượng tốt về một nơi an nghỉ cuối cùng cho người đã khuất.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Sản phẩm của đề tài được chuyển giao cho Sở Lao động Thương Binh hội, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Kế hoạch Đầu ứng dụng trong xây dựng đề án về “Nghĩa trang xanh”, trong công tác quản của ngành. Kết quả nghiên cứu của đề tài làm sở khoa học để Sở Lao động Thương binh hội tham mưu UBND tỉnh phê duyệt dự án xây dựng công trình đài hỏa táng tại Trường Hòa, huyện a Thành, tỉnh Tây Ninh.

Tháng 7/2009, Công ty TNHH Fairy Park Việt Nam (thuộc tập đoàn Fairy Park, Malaysia) trụ sở tại 274, Hải Thượng Lãn Ông, phường 14, quận 5, Tp. Hồ Chí Minh đã khởi công xây dựng “Sơn Trang Tiên Cảnh” tại ấp Trường Thọ, Trường Hòa, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh với số vốn đầu 20 triệu USD, tổng diện tích khu đất khoảng 75 ha giai đoạn 1 với diện tích khoảng 14 ha, dự kiến sẽ phục vụ khoảng 5.000 ngôi mộ an táng, trên 8.000 chỗ lưu trữ tro cốt hỏa táng, chưa kể phần mộ cải táng. Sơn Trang Tiên Cảnh được xây dựng theo mô hình Fairy Park tại Malaysia, có phong cảnh cây cỏ, suối nước, non bộ, các tượng thần, thánh của các tôn giáo, đội ngũ nhân viên chăm sóc mộ...

Từ tháng 8/2011, tập đoàn Fairy Park (Malaysia) đưa Sơn Trang Tiên Cảnh đi vào hoạt động. nơi chôn cất được xây dựng theo kiểu kiến trúc mới, hiện đại hợp phong thủy. Phong cách tiên tiến không nhang khói, phù hợp với chính sách bảo vệ môi trường; hộp đựng tro cốt được làm bằng nhôm, nhập khẩu từ Đài Loan, thiêu bằng diesel... Đây hạng mục công trình lớn nhất, hiện đại nhất của nước ngoài đầu vào lĩnh vực này

 

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều tra tình hình nhiễm giun sán trên đàn bò nuôi tại tỉnh Tây Ninh và thử nghiệm một số loại thuốc tẩy trừĐiều tra tình hình nhiễm giun sán trên đàn bò nuôi tại tỉnh Tây Ninh và thử nghiệm một số loại thuốc tẩy trừ
Chủ nhiệm đề tài: KS. Nguyễn Dương Quốc Việt Cơ quan chủ trì: Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 171,435 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

Đánh giá tình hình nhiễm giun sán và những yếu tố ảnh hưởng tỷ lệ nhiễm trên đàn bò nuôi tại các huyện, thị trong tỉnh. Phát hiện các loài giun sán thường gây bệnh, các lứa tuổi của bò có tỷ lệ mắc bệnh cao ở từng vùng khác nhau; hiệu quả một số loại thuốc thường sử dụng điều trị giun sán ở bò.

Đề xuất một số biện pháp phòng và trị bệnh giun sán trên đàn bò nhằm tăng năng suất và đem lại lợi ích kinh tế cho người nuôi bò.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Điều tra tình hình nhiễm một số giun sán trên đàn bò nuôi và hạ thịt tại 9 huyện, thị tỉnh Tây Ninh.

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm theo vùng địa lý, mật độ chăn nuôi, nhóm tuổi, giống, điều kiện chuồng trại, biện pháp chăm sóc quản lý, trình độ người chăn nuôi theo tháng mùa trong năm.

Thu thập mẫu (mẫu phân và phủ tạng nhiễm ký sinh trùng) để định danh phân loại những loài giun sán trên đàn bò.

Đánh giá biến đổi bệnh lý do ký sinh trùng trên những cơ quan của bò bị nhiễm giun sán.

Bố trí thí nghiệm điều trị những bò, bê bị nhiễm một số loài giun, sán với tỷ lệ nhiễm cao sau khi có kết quả xét nghiệm phân bằng một số loại thuốc trên thị trường.

Đánh giá hiệu quả thuốc bằng cách kiểm tra phân sau 7 ngày sử dụng thuốc điều trị.

Lập bản đồ dịch tể bệnh giun, sán trên bò nuôi tại các huyện, thị trong tỉnh.

Đề xuất những biện pháp khả thi để phòng trị các loài ký sinh trùng phát hiện được trên đàn bò được khảo sát nhằm phục vụ chương trình phát triển chăn nuôi bò trong nhân dân.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả điều tra tình hình nhiễn giun, sán trên đàn bò qua các phương pháp thực hiện: số liệu chính xác phản ánh được tình hình thực tế tại địa phương.

Qua điều tra 1.000 bò hạ thịt tại các lò giết mổ: tỷ lệ nhiễm giun sán chung là 78,30%, trong đó 66,70% nhiễm sán lá dạ cỏ; 49,20% nhiễm giun dạ múi khế và 7,5% nhiễm giun xoang bụng. Có 31,70% bò nhiễm 2 loài; 6,70% bò nhiễm 3 loài giun sán;

+ Tỷ lệ nhiễm cao nhất khảo sát tại lò mổ huyện Trảng Bàng (chiếm tỷ lệ 82,31%), kế đến huyện Dương Minh Châu (chiếm tỷ lệ 78,18%), Gò Dầu (chiếm tỷ lệ 77,69%), Tân Châu (chiếm tỷ lệ 76,15%), tỷ lệ nhiễm thấp nhất tại huyện Tân Biên (chiếm tỷ lệ 73,85%);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán đường tiêu hoá ở giống bò lai sind, ta vàng và giống khác (chủ yếu là bò vàng nguồn gốc Campuchia) lần lượt là 75,81%; 77,42% và 91,06%. Tỷ lệ nhiễm giun sán đường tiêu hoá tăng dần theo các nhóm tuổi của bò dưới 3 tuổi, từ 3 - 5 tuổi và trên 5 tuổi lần lượt là 70,22%; 77,08% và 84,39% (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán đường tiêu hoá ở bò cái (chiếm 78,63%) cao hơn bò đực (chiếm 77,94% (P > 0,05). Bò chỉ nhiễm 1 loài giun sán chiếm tỷ lệ 39,90%, nhiễm 2 loài chiếm 31,70%, nhiễm 3 loài trở lên chiếm 6,70%.

- Điều tra 2.000 bò nuôi phát hiện bò thường nhiễm giun sán: sán lá dạ cỏ, giun dạ múi khế, giun đũa, sán lá gan, cầu trùng, sán dây, giun tóc, giun kết hạt ... tỷ lệ nhiễm chung là 71,25%, cao nhất là nhiễm sán lá dạ cỏ (50,45%) kế đến là giun dạ múi khế (39,85%);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán cao nhất ở bò nuôi tại huyện Trảng Bàng (chiếm 80,33%), kế đến là Thị xã (chiếm 76,52%), Hoà Thành (chiếm 76,43%), Châu Thành (chiếm 73,75%), Tân Châu (chiếm 72,35%), Gò Dầu (chiếm 68,33%), Dương Minh Châu (chiếm 67,31%), Tân Biên (chiếm 67,27%) và thấp nhất là ở bò nuôi tại huyện Bến Cầu (chiếm 57,00%); tỷ lệ nhiễm giun sán ở bò nuôi theo phương thức bán chăn thả (chiếm 76,40%) cao hơn bò nuôi nhốt (chiếm 61,29%) (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán giống bò sữa (chủ yếu bò giống Hostein Friesian - F1, F2, F3) thấp nhất (chiếm 63,76%), kế đến là giống bò lai Sind (chiếm 69,58%), bò ta vàng (chiếm 71,79%) và tỷ lệ nhiễm cao nhất là các giống bò khác, bao gồm bò nguồn gốc Campuchia, bò Thái ... (chiếm 89,06%). Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun sán theo giống bò nuôi khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán tăng dần theo lứa tuổi bò từ bò dưới 1 tuổi, bò từ 1 - 3 tuổi, bò từ 3

- 5 tuổi và bò trên 5 tuổi lần lượt là 62,34%; 69,76%; 73,33% và 81,09%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun sán theo lứa tuổi bò nuôi khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,001);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán ở bò đực (chiếm 72,79%) cao hơn bò cái (chiếm 70,33%). Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05).

+ Tỷ lệ bò nhiễm giun sán tăng theo qui mô của hộ chăn nuôi bò. Tỷ lệ bò nhiễm giun sán ở qui mô chăn nuôi từ 1 - 5 con, từ 6 - 10 con và trên 10 con lần lượt là 68,56%; 72,63% và 77,29%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun sán theo qui mô chăn nuôi có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05);

+ Tỷ lệ nhiễm giun sán ở mùa mưa (chiếm 72,50%) cao hơn mùa khô (chiếm 69,70%). Tuy nhiên, sự khác không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05).

Qua điều trị 400 bò nhiễm giun sán: điều trị giun tròn: thuốc Polystrongle hiệu quả hơn thuốc Bivermectin; điều trị sán lá: thuốc Valbazen hiệu quả hơn thuốc Dovenix.

Qua xét nghiệm 100 tiêu bản vi thể cơ quan nội tạng bò nhiễm giun sán cho thấy có sự tổn thương tại những cơ quan nhiễm giun sán như dạ dỏ, dạ múi khế và ở những cơ quan mà trong chu kỳ sống ấu trùng di hành qua như gan, phổi, ruột, thực quản... Từ đó, sẽ ảnh hưởng sức khoẻ, sự tiêu hoá, hấp thu chất dinh dưỡng của bò và làm giảm năng suất chăn nuôi.

Biện pháp phòng và điều trị bệnh giun, sán trên bò đảm bảo tính khoa học và ứng dụng:

+ Phòng chống bằng thuốc, vệ sinh môi trường, bằng vaccin, diệt các loài vật chủ trung gian truyền bệnh; cơ quan thú y định kỳ kiểm tra, kịp thời phát hiện những loài giun sán ký sinh trên gia súc nuôi để có khuyến cáo, hướng dẫn cán bộ thú y và người chăn nuôi sử dụng thuốc phòng trị hợp lý.

Bản đồ dịch tể bệnh giun, sán trên bò nuôi tại Tây Ninh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 204/QĐ-UBND ngày 14/9/2006. Trường trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Ninh triển khai ứng dụng trong công tác giảng dạy, nghiên cứu cho học sinh, giáo viên khoa chăn nuôi thú y và các hộ chăn nuôi trong tỉnh;

Sử dụng kết quả khảo sát, hình ảnh đề tài viết một số nội dung phần giun, sán bò trong giáo trình Bệnh ký sinh trùng thú y giảng dạy chuyên ngành chăn nuôi thú y tại trường;

Đào tạo được 430 học viên, học viên ứng dụng kiến thức đã học để chuẩn đoán, điều trị bệnh ký sinh trùng cho trâu, bò tại địa phương.

Sử dụng kết quả của đề tài tiếp tục thực hiện hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành:

+ Đề tài: “Đổi mới phương pháp giảng dạy phần chuyên biệt học phần bệnh ký sinh trùng tại trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật tại Tây Ninh”, năm học 2009 - 2010, xếp loại Khá.

+ Đề tài: “Đánh giá hiệu quả một số loại thuốc điều trị giun sán đường tiêu hoá trên bò nuôi tại một số địa bàn thuộc tỉnh Tây Ninh”, năm học 2010 - 2011, xếp loại Khá.

Làm tài liệu nghiên cứu một số nội dung của đề tài cấp tỉnh: “Xây dựng mô hình trạm xá thú y tai trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuat Tây Ninh”, CNĐT: ThS. Lê Thị Kim Lan.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công nhận 430 sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017Công nhận 430 sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017
UBND tỉnh Tây Ninh vừa ban hành Quyết định số 2252/QĐ-UBND về việc công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017.

Trong tổng số 430 sáng kiến được công nhận cấp tỉnh, có 06 sáng kiến đạt loại A (xuất sắc), tiêu biểu như "kinh nghiệm tổ chức một số mô hình trong phong trào thi đua "xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" của ông Lê Văn Ngân và ông Lê Thành Nhân (Trường Tiểu học Thuận An), mô hình bếp ăn "Thân thiện" tiếp sức học trò nghèo của ông Nguyễn Văn Quây (Trường THPT Quang Trung).

Có 270 sáng kiến xếp loại B (khá), còn lại đạt loại C (Trung bình).

Những sáng kiến được công nhận là cơ sở để quan trọng để xét, công nhận Danh hiệu "Chiến sỹ thi đua" cấp tỉnh, là nguồn tri thức quan trọng để ngành Giáo dục và Đào tạo Tây Ninh nghiên cứu, áp dụng đại trà nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của những năm học tiếp theo./.

Thái Thành

04/10/2017 8:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TÂY NINH
Giấy phép: 01/GP-TTĐT, cấp ngày 24 tháng 01 năm 2019.
Cơ quan chủ quản:  Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh
Địa chỉ: 136 Đường Trần Hưng Đạo, Phường 2, Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Chịu trách nhiệm chính: Ông Trương Văn Hùng - Phụ trách Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc Hội, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Điện thoại: 0276. 3822233 - Fax: 0276. 3827290 - Email: toweb@tayninh.gov.vn.