Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksChương Trình, Đề Tài Khoa Học

 
Chương Trình, Đề Tài Khoa Học
 
Mới đây, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh đã tổ chức họp Hội đồng xét duyệt đề cương đề tài "Nghiên cứu, thiết kế, xây dựng hệ thống hỗ trợ thông tin liên lạc tích hợp GPS phục vụ công tác ...
 
Mới đây, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh tổ chức họp Hội đồng xét duyệt đề cương đề tài “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây ...
 
Mới đây, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh tổ chức họp Hội đồng xét duyệt đề cương đề tài "Thực nghiệm đo đạc tính toán tổn thất nước từ cống đầu kênh cấp I đến mặt ruộng trên hệ thống Dầu ...
 
Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu với quy mô lớn hơn để hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu về ứng dụng công nghệ cao nhằm tăng hiệu quả, khả ...
 
Ngày 12/01/2012, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh chính thức phê duyệt danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2012 tại Quyết định số 82/QĐ-UBND
 
Ngày 21/02/2013, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh chính thức phê duyệt danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2013 tại Quyết định số 334/QĐ-UBND
 
Chủ nhiệm đề tài: TS. Bùi Xuân Khôi Cơ quan chủ trì: Trung tâm Giống Nông nghiệp Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2005 - 2008 Thời gian nghiệm thu: 2008 Kinh phí thực hiện: 306,104 triệu đồng. Đánh giá ...
 
Chủ nhiệm đề tài: KS. Nguyễn Dương Quốc Việt Cơ quan chủ trì: Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2006 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 171,435 ...
 
Đồng chủ nhiệm đề tài: GS.TSKH. Lê Huy Bá, KS. Nguyễn Văn Quản Cơ quan chủ trì: Sở NN&PTNT Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2007 - 2009 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 556,27 triệu ...
 
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Dương Thành Lam Cơ quan chủ trì: Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao KHCN - Trường Đại học Nông lâm TP.HCM Thời gian thực hiện: 2009 - 2010 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí ...
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Triển khai đề tài “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.Triển khai đề tài “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2868/QĐ-UBND triển khai đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh về “Xây dựng quy trình kỹ thuật, mô hình nuôi ong mật và khai thác các sản phẩm từ ong mật tại tỉnh Tây Ninh”.

Theo nội dung quyết định, cơ quan chủ trì đề tài là Trung tâm nghiên cứu ong Miền Nam được thực hiện bởi Chủ nhiệm đề tài là KS Nguyễn Anh Khoa trong 24 tháng.

Được biết đề tài được thực hiện với mục tiêu  xây dựng và phát triển nghề nuôi ong  tại Tây Ninh theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần tạo việc làm, tăng nguồn thu nhập cho người dân, đồng thời tạo ra nguồn sản phẩm có giá trị kinh tế cao để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và hướng tới xuất khẩu.

Đối tượng nghiên cứu của loài ong mật khá phổ biến hiện nay gồm: ong ngoại (Apis mellifera), ong nội (Apis cerana) và ong dú (Trigona sp). Đồng thời, Đề tài còn xây dựng  02 quy trình kỹ thuật  nuôi ong và phòng trị bệnh cho 02 loài ong mật là ong ngoại và ong dú, xây dựng mô hình nuôi ong.

Bên cạnh đó, hoàn thiện 02 quy trình kỹ thuật khai thác, sơ chế và bảo quản sản phẩm từ ong mật như mật ong, sáp ong, phấn hoa, sữa ong chúa…

                                                                                              Ngọc Hà

27/11/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin loại 3
Công nhận kết quả đề tài KHCN về “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.Công nhận kết quả đề tài KHCN về “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.
Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2867/QĐ-UBND công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh”.

Theo nội dung quyết định, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II là cơ quan chủ trì, do Thạc sĩ Nguyễn Đức Minh làm chủ nhiệm đề tài. Viện còn phối hợp với Trung tâm khuyến nông tỉnh trong việc lựa chọn điểm mô hình trên địa bàn tỉnh, tổ chức tập huấn cho các hộ dân tham gia thực hiện đề tài.

Được biết, kỹ thuật nuôi thương phẩm thủy sản, đặc biệt đối với các loài có giá trị kinh tế cao như tôm càng xanh còn lạc hậu. Hầu hết người dân nuôi tôm càng xanh theo kinh nghiệm, chưa áp dụng những cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Được biết, Đề tài nghiên cứu đưa những tiến bộ khoa học vào thực tiễn sản xuất như áp dụng con giống toàn đực, sử dụng các nguồn lực tại chỗ nhằm nâng cao năng suất và sản lượng tôm càng xanh toàn đực ở miền Đông Nam Bộ nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng.

Bên cạnh đó, Đề án cũng xây dựng các mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực tại các điểm với các vùng sinh khác nhau như nuôi tại hệ thống sông Vàm Cỏ Đông (huyện Gò Dầu), kênh Đông (huyện Dương Minh Châu) và hệ thống kênh Tây (thành phố Tây Ninh) từ tháng 02/2016 đến tháng 02/2018 nhằm đánh giá khách quan và tính hiệu quả thực tế của mô hình khi triển khai trên địa bàn tỉnh.

Được biết, các mô hình được triển khai đạt hiệu quả kinh tế cao sau khi kết thúc vụ nuôi, trong đó tỉ suất lợi nhuận cao nhất đạt từ 55% đến 72% tại Kênh Đông và Kênh Tây.

                                                                                              Ngọc Hà

27/11/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin
Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019
Ngày 19/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3098/QĐ-UBND phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019, với 02 đề tài cụ thể như sau:

Đề tài về lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ "Điều tra, đánh giá tiềm năng tài nguyên nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt cho khu vực Chàng Riệc xã Tân Lập, huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh. Mục tiêu chung của Đề tài này là điều tra đánh giá tiềm năng, chất lượng tài nguyên nước khu vực Chàng Riệc xã Tân Lập, huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh; Đề xuất những giải pháp, quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước khu vực Chàng Riệc xã Tân Lập, huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh.

Đề tài thứ 2 về lĩnh vực khoa học nông nghệp "Xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận cho các sản phẩm từ thịt bò của tỉnh Tây Ninh."  Với mục tiêu chung là góp phần nâng cao giá trị các sản phẩm từ con bò của tỉnh Tây Ninh mang nhãn hiệu chứng nhận; Duy trì  danh tiếng sản phẩm từ con bò của tỉnh và nâng cao đời sống người dân vùng sản xuất, kinh doanh sản phẩm. Bên cạnh đó, đề tài còn xây dựng quy trình chăn nuôi, sản xuất, chế biến, kinh doanh các sản phẩm từ con bò của tỉnh Tây Ninh mang nhãn hiệu chứng nhận; Xác định các tiêu chí và phương pháp chứng nhận của các sản phẩm từ con bò của tỉnh Tây Ninh mang nhãn hiệu chứng nhận; Xây dựng hệ thống tổ chức, phương tiện, điều kiện để quản lý và khai thác nhãn hiệu chứng nhận./.

 

                                                                                              Ngọc Hà

22/12/2018 8:00 SAĐã ban hànhTin loại 3
Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2017Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2017
Ngày 21 tháng 11 năm 2016 của UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2017 với 05 Đề tài thuộc 03 Lĩnh vực về: Khoa học Nông nghiệp; Khoa học kỹ thuật và Công nghệ; Khoa học Y, dược cụ thể:

1. Lĩnh vực Khoa học Nông nghiệp:

- Đề tài: Ứng dụng công nghệ tạo viên không nhiệt để sản xuất phân bón NPK kết hợp silica từ tro trấu

2. Lĩnh vực Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ:

- Đề tài: Khảo sát hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài quý hiếm Gà lôi hông tía (LopPhura diardi) ở Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát tỉnh Tây Ninh

- Đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và đề xuất các giải pháp thích ứng

3. Lĩnh vực Khoa học Y, dược

- Đề tài: Thực trạng và giải pháp quản lý tật khúc xạ của học sinh trung học cơ sở tại tỉnh Tây Ninh

- Đề tài: Mô hình bệnh tật ở các bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh

Quyết định phê duyệt danh mục:  Tải về 2969.PDF


Theo sokhcn.tayninh.gov.vn

25/11/2016 4:00 CHĐã ban hành
UBND tỉnh công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018UBND tỉnh công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018

Ngày 09/5/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1042/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh năm 2018.

Theo nội dung Quyết định, toàn tỉnh có tất cả 91 sáng kiến được đề xuất công nhận sáng kiến cấp tỉnh. Sau khi được hội đồng sáng kiến cấp tỉnh (gọi tắt là Hội đồng) xem xét, đánh giá và đưa ra kết quả đánh giá gồm: 01 sáng kiến đạt loại A (Xuất sắc), 83 sáng kiến đạt loại B (Khá), 04 sáng kiến đạt loại C (Trung bình) và 03 sáng kiến không đạt yêu cầu công nhận là sáng kiến cấp tỉnh.

Được biết, sáng kiến duy nhất đạt loại A là về "Tham mưu, đề xuất UBND tỉnh tổ chức, phối hợp tổ chức thực hiện việc ứng dụng mạng xã hội Zalo trong tiếp nhận phản ánh kiến nghị và giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Tây Ninh". Đây là sáng kiến được đánh giá cao và đang được triển khai ngày càng mạnh mẽ, góp phần cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh.

Xem danh sách công nhận sáng kiến tại đây. Cong nhan SKCT 2018_Danh sach.doc

                                                                                                     Ngọc Hà

10/05/2019 3:00 CHĐã ban hànhTin loại 4
Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ  khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018Phê duyệt danh mục các nhiệm vụ  khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018

Ngày 10/10/2017, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 2344/QĐ-UBND phê duyệt danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018 

Quyết định phê duyệt danh mục:  2344.pdf

10/10/2018 10:00 SAĐã ban hànhTin
Điều tra, nghiên cứu, đề xuất hướng khai thác và bảo tồn đất ngập nước tỉnh Tây NinhĐiều tra, nghiên cứu, đề xuất hướng khai thác và bảo tồn đất ngập nước tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài:Ths. Đặng Hòa Vĩnh Cơ quan chủ trì: Sở NN&PTNT Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2005 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 503,802 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

-     Xác định cơ sở dữ liệu về điều kiện tài nguyên thiên nhiên các vùng đất ngập nước (ĐNN) tỉnh Tây Ninh.

-     Đánh giá hiện trạng sử dụng ĐNN, xác định chức năng các vùng ĐNN.

-     Cung cấp luận cứ khoa học cho việc quy hoạch, quản lý khai thác và bảo vệ các vùng ĐNN.

-     Đề xuất phương hướng, biện pháp trong công tác khai thác, quản lý, bảo vệ, và sử dụng bền vững tài nguyên ĐNN (có xét đến các điều kiện thay đổi trong tương lai).

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Nghiên cứu các điều kiện tài nguyên thiên nhiên và quá trình khai thác đất đai có liên quan đến ĐNN tỉnh Tây Ninh.

-     Xây dựng bản đồ ĐNN tỉnh Tây Ninh.

-     Đánh giá, dự báo các tác động của con người đến ĐNN trong tương lai.

-     Nghiên cứu, đề xuất phương hướng bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên ĐNN tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Kết quả kiểm kê ĐNN tỉnh Tây Ninh: 181.539,41 ha chiếm 45,05% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó: đất ngập nước thuộc sông 152.405,28 ha (chiếm 83,95%); đất ngập nước thuộc hồ 28.368,20 ha (chiếm 15,63%); đất ngập nước thuộc đầm 7.765,93 ha (chiếm 4,28%).

-     Chức năng của ĐNN phụ thuộc vào tính chất và vị trí phân bố của từng đơn vị ĐNN khác nhau.

+ Các vùng cao thuộc thượng nguồn hồ Dầu tiếng, bờ phải rạch bến, bờ phải rạch Bến Đá: là vùng khan hiếm nguồn nước, nhưng lại có vai trò rất lớn trong việc cung cấp nước ngọt cho dân sinh và nhiều loài thủy sinh vật;

+ Các vùng tưới của hồ Dầu tiếng: nguồn nước dồi dào, tưới tiêu chủ động; tạo ra môi trường hoạt động cho các ngành kinh tế như thủy sản, nông - lâm nghiệp, giao thông thủy, sản xuất năng lượng, du lịch, khai khoáng;

+ Các vùng ven sông Vàm Cỏ Đông: là nơi tiếp nhận các dưỡng chất, tích lũy các độc chất do các hoạt động khai thác phái trên đổ xuống; là nơi thanh lọc chất gây ô nhiễm, điều hòa lũ lụt. Đây cũng chính là nơi sinh sống quan trọng cho nhiều loài động vật hoang dã, sinh sản của nhiều loài thủy đặc sản địa phương.

-     ĐNN Tây Ninh hiện đang đứng trước nhiều nguy cơ xâm hại.

+ Tình trạng khô kiệt và mất ĐNN: các vùng ĐNN tại Tây Ninh đang ngày càng trở nên khô hơn do tình trạng phá rừng và áp lực gia tăng diện tích canh tác; khai thác tài nguyên quá mức: nguồn lợi thủy sản đã giảm súc đáng kể; ô nhiễm nguồn nước: hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước, ô nhiễm hữu cơ; sự xâm lấn các loài cỏ dại: nhiều loài cỏ dại không có nguồn gốc bản địa, trong đó có những loài cây gây ảnh hưởng xấu (Mai dương, Lục bình, thủy thảo).

-     Để khai thác hiệu quả và bền vững tài nguyên đất ngập nước, cần phải hạn chế việc lạm thác tài nguyên thủy sản; loại trừ các hình thức khai thác mang tính chất hủy diệt; bảo vệ an toàn môi trường hồ chứa; duy trì đa dạng sinh học; phát huy và mở rộng mô hình du lịch sinh thái.

+ Hệ thống canh tác vùng bán ngập cần đảm bảo an toàn về xói mòn và sạt lở bờ hồ; quản lý chặt chẽ việc sử dụng phân bón trên vùng bán ngập và đặc biệt cấm tuyệt đối việc sử dụng thuốc trừ sâu trên vùng đất này;

+ Xây dựng đê bao chống lũ triệt để vùng ven sông Vàm Cỏ Đông, có thể gây ảnh hưởng đến các chức năng chính của hệ thống ĐNN ven sông này; trước mắt cần san lấp các kênh tiêu trong các vùng đất lâm nghiệp; tại những vị trí buộc phải có cống tiêu, cần có cửa kiểm soát, cuối mùa mưa cống cần được đóng lại duy trì chế độ ngập tự nhiên trong trảng, kéo dài thời gian ngập trong mùa khô;

+ Hiện tại ô nhiễm nguồn nước trên hệ thống kênh rạch đã đến mức báo động, để cải thiện ô nhiễm môi trường hệ thống kênh rạch, ngoài biện pháp quản lý các nguồn nước thải xả xuống hệ thống, còn có thể lợi dụng nguồn nước ngọt từ hồ Dầu Tiếng.

-     Thành lập các bản đồ, sơ đồ về điều kiện tài nguyên thiên nhiên trên các vùng đất ngập nước; bản đồ kiểm kê đất ngập nước tỉnh Tây Ninh tỷ lệ 1/50.000; các bản đồ các vùng đất ngập nước tiêu biểu tỷ lệ 1/25.000; các bảng biểu thống kê, phân loại và đánh giá về đất ngập nước tỉnh Tây Ninh; các báo cáo chuyên đề và báo cáo tổng hợp; bộ cơ sở dữ liệu về tài nguyên đất ngập nước.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

-     Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 462/QĐ-UBND ngày 05/3/2010. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao đến các cơ quan và đơn vị có liên quan để phục vụ trong công tác quản lý của ngành: Công ty Khai thác Thủy lợi Dầu Tiếng ứng dụng trong khai thác vận hành hồ chứa; Sở Tài nguyên & Môi Trường ứng dụng trong quản lý tài nguyên đất ngập nước.

-     Sở NN&PTNT (Sở tiếp nhận 01/2011): kết quả áp dụng đã triển khai áp dụng 02 dự án:

+ Dự án đê bao chống lũ ven sông Vàm Cỏ nhằm bảo vệ và phát triển diện tích đất sản xuất nông nghiệp, diện tích tưới 1.800 ha, diện tích tiêu 2.500 ha;

+ Dự án xây dựng đập tràn rạch Tây Ninh nhằm cải thiện tình trạng ô nhiểm rạch Tây Ninh tạo mỹ quan đô thị.

Một số giải pháp áp dụng trong các năm tiếp theo:

+ Xây dựng một số đập tràn, hồ chứa nhỏ vùng Bắc Tây Ninh nhằm giải lưu lượng lũ vào mùa mưa, giữ nước phục vụ sản xuất, tăng mực nước ngầm, cải thiện môi trường sinh thái;

+ Đầu tư một số công trình đê bao vùng ven sông Vàm Cỏ Đông phát triển sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản kết hợp mô hình sản xuất nông nghiệp với thuỷ sản, phát triển nuôi trồng thuỷ sản của vùng kết hợp giao thông nội đồng.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công nhận 430 sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017Công nhận 430 sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017
UBND tỉnh Tây Ninh vừa ban hành Quyết định số 2252/QĐ-UBND về việc công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2016-2017.

Trong tổng số 430 sáng kiến được công nhận cấp tỉnh, có 06 sáng kiến đạt loại A (xuất sắc), tiêu biểu như "kinh nghiệm tổ chức một số mô hình trong phong trào thi đua "xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" của ông Lê Văn Ngân và ông Lê Thành Nhân (Trường Tiểu học Thuận An), mô hình bếp ăn "Thân thiện" tiếp sức học trò nghèo của ông Nguyễn Văn Quây (Trường THPT Quang Trung).

Có 270 sáng kiến xếp loại B (khá), còn lại đạt loại C (Trung bình).

Những sáng kiến được công nhận là cơ sở để quan trọng để xét, công nhận Danh hiệu "Chiến sỹ thi đua" cấp tỉnh, là nguồn tri thức quan trọng để ngành Giáo dục và Đào tạo Tây Ninh nghiên cứu, áp dụng đại trà nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của những năm học tiếp theo./.

Thái Thành

04/10/2017 8:00 SAĐã ban hành
Quyết định Công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnhQuyết định Công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh

Công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh sau:

- Tên đề tài: "Biên soạn, chỉnh lý, bổ sung địa lý y tế quân sự tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2011-2015".

- Cơ quan chủ trì: Ban Quân Dân y tỉnh Tây Ninh.

- Chủ  nhiệm  đề  tài: BS. CKII. Lương Quang Lực.

- Xếp loại: Đạt

2411.qd.PDF


27/09/2018 10:00 SAĐã ban hànhTin
Thực nghiệm đo đạc tính toán tổn thất nước từ cống đầu kênh cấp I đến mặt ruộng trên hệ thống Dầu TiếngThực nghiệm đo đạc tính toán tổn thất nước từ cống đầu kênh cấp I đến mặt ruộng trên hệ thống Dầu Tiếng
Mới đây, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh tổ chức họp Hội đồng xét duyệt đề cương đề tài "Thực nghiệm đo đạc tính toán tổn thất nước từ cống đầu kênh cấp I đến mặt ruộng trên hệ thống Dầu Tiếng" do PGS.TS Đỗ Tiến Lanh - Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam làm chủ nhiệm.

Detaikh.jpg

Cơ quan chủ trì đề tài trình bày nội dung đề cương tại cuộc họp

Tham dự phiên họp Hội đồng có ông Nguyễn Minh Hiệp, PGĐ Sở KH&CN Tây Ninh, Chủ tịch Hội đồng; ông Trần Minh Sơn, PGĐ Sở Tài nguyên và Môi trường Tây Ninh, PCT Hội đồng; GS.TS Đào Xuân Học, Trường Đại học Thủy lợi; PGS.TS Nguyễn Đăng Tính, Trường Đại học Thủy lợi tham gia phản biện, cùng với các thành viên khác đang công tác tại các đơn vị có liên quan.

Với mục tiêu xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp giảm thiểu tổn thất nguồn nước trên hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng thuộc địa bàn tỉnh Tây Ninh (từ sau cống đầu kênh cấp I), để nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong quản lý, vận hành hệ thống cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Đề tài được Hội đồng xét duyệt đề cương thống nhất triển khai thực hiện. Tuy nhiên, Hội đồng đề nghị cơ quan chủ trì hoàn chỉnh lại các nội dung theo góp ý tại cuộc họp và gửi về Sở KH&CN để tiến hành thủ tục theo quy định./.

 

                                                                                              Phòng TT - SHTT

25/03/2015 3:00 CHĐã ban hành
Nghiên cứu, đánh giá sự suy thoái hệ sinh thái môi trường đất, đề xuất phương án sử dụng hợp lý, phục hồi tài nguyên và phát triển bền vữngNghiên cứu, đánh giá sự suy thoái hệ sinh thái môi trường đất, đề xuất phương án sử dụng hợp lý, phục hồi tài nguyên và phát triển bền vững
Đồng chủ nhiệm đề tài: GS.TSKH. Lê Huy Bá, KS. Nguyễn Văn Quản Cơ quan chủ trì: Sở NN&PTNT Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2007 - 2009 Thời gian nghiệm thu: 2009 Kinh phí thực hiện: 556,27 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Phát hiện, đánh giá quá trình thoái hóa đất nông nghiệp và đất đô thị (do xói mòn, bạc màu, mất hữu cơ và ô nhiễm). Đề xuất biện pháp ngăn chặn, sử dụng đất hợp lý, bền vững, nâng cao năng suất cây trồng và quyền lợi của người dân nông thôn và vùng ven đô.

Tạo hệ thống cơ sở dữ liệu và bản đồ, giúp quản lý, chỉ đạo nhanh, cập nhật và hữu hiệu tài nguyên đất của tỉnh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Khảo sát và thu thập, biên hội tài liệu về hiện trạng môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội của tỉnh Tây Ninh.

Biên hội số liệu, lập tiền dữ liệu về tài nguyên môi trường sinh thái đất Tây Ninh.

Điều tra khảo sát quá trình xói mòn đất dốc Tây Ninh trên nhiều loai đất và nhiều độ dốc khác nhau.

Điều tra và khảo sát quá trình bạc màu hóa đất trong hệ sinh thái cây khoai mì, mía, đậu phộng, lúa, vườn cây ăn trái Tây Ninh.

Điều tra và khảo sát quá trình mất chất hữu cơ ở các vùng đất thung lũng ven sông Vàm Cỏ Đông, kênh rạch, các bưng trũng cục bộ, xung quanh hồ Dầu Tiếng thuộc tỉnh Tây Ninh.

Đánh giá suy thoái đất trên từng vùng sinh thái nông, lâm nghiệp.

Điều tra tập quán, kinh nghiệm sản xuất, vận dụng, kết hợp kết quả nghiên cứu, xây dựng mô hình sử dụng đất tối ưu.

Xác định mức độ suy thoái môi trường sinh thái và suy giảm tài nguyên đất bằng, điều tra năng suất, chất lượng cây trồng theo thời gian.

Xác định mức độ nhiễm đất do chất thải đô thị và công nghiệp vùng ngoại thành, vùng xung quanh các khu công nghiệp tỷ lệ bản đồ 1/50.000.

Thiết lập chuỗi số liệu tài nguyên môi trường để diễn tả tốc độ, chiều hướng suy thoái.

Thành lập các bản đồ suy thoái đất.

Phân vùng suy thoái tổng hợp toàn tỉnh trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000.

Xây dựng phương án khảo nghiệm sử dụng đất tối ưu trên máy tính.

Xây dựng và thử nghiệm phương pháp pilot xói mòn, bạc màu và mất chất hữu cơ tại một số điểm “nóng”.

Đánh giá rủi ro môi trường đất (do ô nhiễm, mất dưỡng chất, sụt lỡ đất, nứt đất).

Xây dựng phương án khảo nghiệm nhanh bằng phương pháp sử dụng đất tối ưu trên thực địa theo từng hệ sinh thái đất, trên cơ sở bài toán kinh tế sinh thái nông nghiệp.

Đề xuất các thông số chỉ thị cho phát triển bền vững hệ sinh thái môi trường đất nông nghiệp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đề tài đã điều tra, nghiên cứu xây dựng thành lập bản đồ hiện trạng nhằm đánh giá mức độ suy thoái đất, đề xuất một số vấn đề phục vụ cho việc sử dụng bền vững tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh như sau: Vấn đề xói mòn đất; bạc màu hoa đất; mất chất hữu cơ; chất thải đô thị và công nghiệp ảnh hưởng lên môi trường đất và đề xuất một số kiến nghị cần thực hiện.

+ Mức độ thoái hóa đất được thể hiện ở một số vấn đề: xói mòn đất, bạc màu hóa đất, mất chất hữu cơ, chất thải đô thị và công nghiệp;

+ Quá trình xói mòn diễn ra trên tỉnh Tây Ninh hầu như thấp so với các khu vực khác trong vùng Đông Nam Bộ. Nếu đi từ Đông Bắc xuống Tây Nam, địa hình có xu hướng thấp dần, nên cường độ xói mòn ít dần. Đối với khu vực Núi Bà Đen, địa hình cao, độ dốc lớn, rất dễ xãy ra xói mòn;

+ Tài nguyên đất Tây Ninh phần lớn là nhóm đất xám (chiếm tới 85,65% tổng diện tích đất tự nhiên), nhóm đất này nghèo dưỡng chất, thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước, giữ màu kém, hàm lượng mùn, vi sinh vật trong đất thấp. Điều này gây bất lợi lớn đối với cây trồng;

+ Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng, Tây Ninh có 5 nhóm đất chính với 15 loại đất khác nhau. Trong đó, ba nhóm đất tập trung khai thác cho sản xuất đất nông nghiệp là: xám - phèn - phù sa.

Một số khu vực có biểu hiện của quá trình bạc màu như: xã Mỏ Công, Trà Vong, Thạnh Bình, Tân Bình (huyện Tân Biên), Thạnh Đông, Tân Hà, Tân Thành, Tân Hòa (huyện Tân Châu), Long Khánh, Long Phước, Long Giang (huyện Bến Cầu), Phước Minh, Phước Ninh, Bến Củi (huyện Dương Minh Châu), Ninh Sơn (thị xã Tây Ninh), Thạnh Đức (huyện Gò Dầu), Đôn Thuận (huyện Trảng Bàng), Trường Đông (huyện Hòa Thành).

Hàm lượng nitơ tổng số trong đất ở Tây Ninh là rất thấp cả vào mùa mưa lẫn mùa khô; ở tầng nông, mùa mưa chỉ từ 0,0011- 0,0153% và mùa nắng từ 0,0001- 0,002%, độ phì nhiêu tiềm tàng của đất kém.

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa gây ảnh hưởng đến tính chất lý học, hóa học của đất. Đặc biệt là các loại chất thải nguy hại, độc tính cao, khó phân hủy sinh học, tích lũy trong đất với thời gian dài gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đất.

Biện pháp chống xói mòn, ngăn ngừa sự cạn kiệt nguồn dinh dưỡng trong đất và giảm sự lạm dụng quá mức đất canh tác: lĩnh vực nông nghiệp: chọn thời vụ thích hợp, bón phân, phủ đất; lâm nghiệp: trồng rừng trên đồi núi và dọc ven hồ Dầu Tiếng, theo hệ thống kênh rạch Tây Ninh; hóa học kết hợp với sinh học: dùng chất liên kết màng và cây cỏ che phủ mặt đất quanh năm;

+ Thực hiện công tác quy hoạch đưa các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ra khỏi khu dân cư. Xử phạt nghiêm khắc các cơ sở sản xuất, đơn vị gây ô nhiễm, nhằm ngăn ngừa lây lan chất ô nhiễm từ các hoạt động của đô thị và khu công nghiệp;

+ Duy trì và phục hồi độ phì nhiêu của đất; luân xen canh cây hoa màu; làm bờ thửa cho nhóm đất xám trên phù sa cổ; cải tạo nhóm đất phèn; đẩy mạnh công tác xã hội, khuyến nông, sử dụng và quản trị đất đai đúng hướng.

Các phần mềm cơ sở dữ liệu dễ sử dụng và là công cụ phục vụ quản lý; hệ thống các bản đồ tỷ lệ 1/50.000 về tiềm năng xói mòn, hiện trạng đất bạc màu, hiện trạng mất hữu cơ, chất lượng môi trường đất.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 854/QĐ-UBND ngày 19/4/2011. Kết quả nghiên cứu đã đóng gop vào cơ sở dữ liệu về đất ở Tây Ninh phục vụ các nghiên cứu có liên quan như: đánh giá các quá trình suy thoái tài nguyên môi trường đất nông nghiệp; định hướng phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nâng dần tỷ trọng sản xuất nông nghiệp công nghệ caoNâng dần tỷ trọng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu với quy mô lớn hơn để hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu về ứng dụng công nghệ cao nhằm tăng hiệu quả, khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng của người tiêu dùng.…


 

Các loại hoa được trồng trong nhà kính ở Đà Lạt với công nghệ và quy trình nghiêm ngặt đã cho hiệu quả cao

Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu với quy mô lớn hơn để hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu về ứng dụng công nghệ cao nhằm tăng hiệu quả, khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng của người tiêu dùng.…

 Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước hiện có 29 khu nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) được xây dựng và đưa vào quy hoạch tại 12 tỉnh, thành phố, qua đó đã hình thành một số mô hình phát triển NNCNC, làm tiền đề cho việc phát triển các vùng NNCNC như mô hình sản xuất rau an toàn, trồng hoa, cây cảnh tại TP.HCM, Bắc Ninh, Lâm Đồng; mô hình sản xuất nấm quy mô trang trại tại Vĩnh Phúc…. Ngoài ra, đã hình thành được các vùng chuyên canh sản xuất, chế biến các sản phẩm từ sữa tại Hà Nội, Nghệ An, TP.HCM; vùng trồng chè theo công nghệ của Đài Loan tại Thái Nguyên, Lâm Đồng…. Cùng với đó là hàng loạt công nghệ mới như tạo giống, nhà kính, nhà lưới, vườn ươm, kho mát bảo quản, đóng gói rau, hoa trình độ cao với phương thức, kỹ thuật và quy trình sản xuất đồng bộ giúp nâng cao năng suất, ổn định giá thành và chất lượng sản phẩm; giá trị sản xuất đạt 500 triệu - 1 tỷ đồng/ha.…

 Cụ thể như tại TP.HCM, Công ty liên doanh Hạt giống Đông Tây đã đầu tư được trại sản xuất hạt giống rau F1 đạt tiêu chuẩn cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Còn tại tỉnh Lâm Đồng, đến hết năm 2013 đã có gần 35 nghìn ha đất sản xuất NNCNC với giá trị sản xuất rau cao cấp đạt bình quân 400 triệu đồng/ha; hoa cao cấp đạt 800 triệu - 1 tỷ đồng/ha, đặc biệt là các loại hoa được trồng trong nhà kính ở Đà Lạt với công nghệ và quy trình nghiêm ngặt cho hiệu quả cao. Tại tỉnh Sơn La, dự án khu NNCNC cũng đã được triển khai xây dựng tại huyện Mộc Châu với quy mô 200ha, áp dụng các công nghệ tiên tiến như trồng rau bằng kỹ thuật thủy canh; trồng một số loại rau, hoa nhập ngoại và canh tác trên đất có phủ màng hoặc trên giá thể không đất; công nghệ nuôi cấy mô cho rau, hoa lily, hoa lan. Hàng loạt các quy trình như sản xuất trong nhà kính, nhà lưới, thiết bị tưới phun, tưới nhỏ giọt, điều chỉnh ánh sáng, nhiệt độ, chất dinh dưỡng, nước… đều đã được đầu tư đồng bộ, tự động hóa.…

Ông Nguyễn Văn Tiến, Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp nông thôn - Ban Kinh tế Trung ương nhận định: Những kết quả nghiên cứu, đầu tư ứng dụng công nghệ cao đã có đóng góp quan trọng làm tăng năng suất, sản lượng nông nghiệp cho Việt Nam trong một vài năm qua. Tuy nhiên, hoạt động của các khu NNCNC còn rất hạn chế do đầu tư chưa đồng bộ, tập trung; cơ chế hỗ trợ, thu hút doanh nghiệp còn thiếu tính hấp dẫn, tính cạnh tranh của sản phẩm chưa cao. “Bên cạnh đó, việc lựa chọn mô hình, sản phẩm, công nghệ để sản xuất chưa phù hợp; chi phí vận hành quá cao dẫn đến sản xuất không hiệu quả. Một số khu NNCNC ở Hải Phòng, Hà Nội… được đầu tư hàng chục tỷ đồng để nhập công nghệ trọn gói của nước ngoài nhưng chưa được thành công như mong muốn” - ông Tiến nói.

Do vậy, cùng với việc tổ chức bài bản, khoa học để sản xuất NNCNC từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, tới đây, các địa phương, doanh nghiệp cần xem xét đầu tư hợp lý để không chỉ ứng dụng được công nghệ tiên tiến vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp của địa phương mà còn có thể phát huy được những thế mạnh về tài nguyên đất đai, điều kiện tự nhiên sẵn có.

Một vấn đề khác được đặt ra là bảo vệ bản quyền giống trong quá trình triển khai NNCNC, bởi theo ông Nguyễn Văn Bảo - Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH Agrivina: Mặc dù Việt Nam đã là thành viên của Hiệp hội Quốc tế bảo vệ bản quyền giống cây trồng mới (UPOV) từ năm 2006, nhưng đến nay việc bảo vệ bản quyền vẫn không được thực hiện nghiêm túc. Ông Bảo cho biết: Hiện một số doanh nghiệp và nhất là các hộ nông dân tại tỉnh Lâm Đồng sử dụng giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc, xuất xứ; tùy tiện nhân giống dẫn đến sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các doanh nghiệp, đồng thời làm ảnh hưởng đến việc nghiên cứu, lai tạo và sản xuất các loại giống rau, hoa mới của doanh nghiệp.…

 Trong thời gian tới, phát triển NNCNC cần tập trung vào các mục tiêu trọng tâm như: Chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi; phát triển số lượng doanh nghiệp và cung ứng dịch vụ NNCNC, đặc biệt là tạo điều kiện cho phát triển doanh nghiệp NNCNC.

Mục tiêu cụ thể từ nay đến năm 2015, theo ông Nguyễn Tấn Hinh - Vụ phó Vụ Khoa học công nghệ và môi trường - Bộ NN&PTNT, là sẽ từng bước xây dựng và hình thành cho được nền NNCNC, trong đó, trọng tâm là phát triển số doanh nghiệp NNCNC và vùng sản xuất, phấn đấu đến năm 2015, mỗi tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm sẽ xây dựng được từ 3-5 doanh nghiệp, 2-3 vùng sản xuất NNCNC, qua đó từng bước sản xuất một số sản phẩm nông nghiệp hàng hóa ứng dụng công nghệ cao, có năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao; nâng tỷ trọng giá trị sản xuất NNCNC chiếm từ 10-15% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước.

                                                                                                 Báo Công Thương

05/08/2014 5:00 CHĐã ban hành
Công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2017 - 2018Công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo năm học 2017 - 2018
Ngày 10/12/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2983/QĐ-UBND công nhận sáng kiến cấp tỉnh ngành Giáo dục và Đào tạo, trong đó

- Số sáng kiến cấp cơ sở đạt yêu cầu công nhận sáng kiến cấp tỉnh: 466/599, với 01 sáng kiến đạt loại A (xuất sắc), 239 sáng kiến đạt loại B (khá), và 226 sáng kiến đạt loại C (trung bình).

- Số sáng kiến cấp cơ sở không đạt yêu cầu công nhận sáng kiến cấp tỉnh: 133/599.

(Danh sách kèm theo) SO KH_CN GUI SAP XEP LAI DANH SACH (27-11-2018).doc

 

                                                                                              Ngọc Hà

11/12/2018 11:00 SAĐã ban hànhTin loại 3
Chương trình phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn đến năm 2020Chương trình phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn đến năm 2020
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Dương Thành Lam Cơ quan chủ trì: Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao KHCN - Trường Đại học Nông lâm TP.HCM Thời gian thực hiện: 2009 - 2010 Thời gian nghiệm thu: 2011 Kinh phí thực hiện: 155,79 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất của các nhóm ngành nghề có ứng dụng Công nghệ Sinh học (CNSH) trong lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tại tỉnh Tây Ninh.

Đánh giá những cơ hội, thách thức trong việc ứng dụng CNSH của tỉnh.

Xây dựng kế hoạch, giải pháp thực hiện, triển khai các đề tài, dự án phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Điều tra thực trạng CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Xây dựng chiến lược ứng dụng và phát triển ngành CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT ở Tây Ninh đến năm 2020.

Đề xuất giải pháp thực hiện ứng dụng và phát triển ngành CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT ở Tây Ninh đến năm 2020 .

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thực trạng CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT trên địa bàn tỉnh Tây Ninh: tình hình nhân sự và cơ sở vật chất của các cơ quan quản lý trong lĩnh vực CNSH ở tỉnh Tây Ninh hiện nay; những thành quả nghiên cứu trong lĩnh vực CNSH của tỉnh trong 5 năm; hiện trạng ứng dụng CNSH trong các doanh nghiệp sản xuất, các chế phẩm điều trị trong nông nghiệp; nhu cầu và thông tin sản phẩm CNSH trong tỉnh; khả năng cung cấp sản phẩm CNSH trong thời gian tới; khả năng thương mại hóa các sản phẩm CNSH; sơ lược một số thuận lợi khó khăn, cơ hội thách thức của các đơn vị nghiên cứu sản xuất - quản lý - phân phối - tiêu dùng.

+ Qua điều tra 479 phiếu trên các cơ quan ban ngành có liên quan ở 8 huyện khác nhau: cán bộ quản lý có chuyên môn liên quan đến ngành CNSH có trình độ đại học, cao đẳng chiếm 62,32%; trung học chiếm 25,36%; có 2 cán bộ có trình độ thạc sỹ; còn lại 10,87% chưa qua đào tạo bậc đại học. Nên phát triển ngành CNSH tại Tây Ninh thì trình độ cán bộ quản lý sẽ rất han chế.

Hiện tại, nhân lực chuyên về nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng CNSH đang thiếu, đặc biệt là cán bộ phụ trách các lĩnh vực chăn nuôi thú y, giống cây trồng, xư lý chất thải, nước thải, phòng và chữa bệnh trong nông nghiệp;

+ Trang thiết bị, phòng thí nghiệm toàn tỉnh chỉ có 01 phòng thí nghiệm tại Chi cục Bảo vệ Thực vật Tây Ninh và 01 phòng thí nghiệm ở Trung tâm ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học và Công nghệ để sản xuất một số sản phẩm nhằm cung ứng cho nhu cầu thị trường trong tỉnh;

+ Thiếu thốn, lạc hậu, chưa có kế hoạch đầu tư thiết bị cụ thể. Trong khi nhu cầu sử dụng các sản phẩm công nghệ sinh học (CNSH) trên địa bàn hiện nay là rất lớn, đa số người dân đã có ý thức về việc sử dụng cac sản pham CNSH.

Nhận thức của cán bộ quản lý về tầm quan trọng của CNSH trong sự phat triển ở tỉnh Tây Ninh:

+ Trong Nông nghiệp, CNSH đã được ứng dụng chủ yếu trong trồng trọt và chăn nuôi, đạt năng suất chất lượng cao, giảm công lao động, giải quyết các vấn đề về môi trường, phòng và trị bệnh cho gia súc, lai tạo các giống mới;

+ Ngành CNSH đang là một lĩnh vực hấp dan đối với các cán bộ quản lý. Trong tổng số 138 người được hỏi, có 123 người cho rằng ngành hấp dẫn và rất hấp dan chiếm 89,47%;

Những thành quả nghiên cứu trong lĩnh vực CNSH trong tỉnh trong 5 năm trở lại đây:

+ Đạt được một số kết quả đáng khích lệ, góp phần gia tăng mức tăng trưởng bình quân hàng năm, nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi; tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi, chủng vi sinh vật, các chế phẩm công nghệ sinh học nông nghiệp mới;

Chiến lược ứng dụng và phát triển ngành CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT ở Tây Ninh đến năm 2020.

+ CNSH nông nghiệp sẽ đóng vai trò chủ chốt trong việc nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa.

+ Tỉnh sẽ xây dựng các cơ sở vật chất trang bị cho việc nghiên cứu CNSH theo chiều sâu vào một số hướng mũi nhọn để giải quyết các vấn đề then chốt trong sản xuất nông nghiệp.

Giải pháp thực hiện ứng dụng và phát triển ngành CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT ở Tây Ninh đến năm 2020:

+ Rà soát, đánh giá lại thực trạng nguồn nhân lực cũng như khả năng phát triển trong thời gian tới nhằm có chính sách quản lý phù hợp với thực tế; đào tạo chuyên ngành CNSH và tạo cơ chế tuyển dụng, thu hút nhân tài có trình độ;

+ Tổ chức hội thảo “ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn” tại tỉnh Tây Ninh để tiếp tục thu nhận những ý kiến đóng góp từ các chuyên gia trong ngành trong và ngoài nước trước khi được Tỉnh Ủy, UBND tỉnh Tây Ninh chính thức phê duyệt kế hoạch hành động.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề án được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 1581/QĐ-UBND ngày 14/8/2012. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở dữ liệu cho các đề tài, dự án phát triển tiếp theo trong lĩnh vực NN&PTNT của tỉnh; Đề án được Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn ứng dụng trong công tác lập kế hoạch, chính sách và đưa các giải pháp định hướng phát triển CNSH một cách cụ thể phù hợp với điều kiện của tỉnh Tây Ninh.

 

07/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Danh mục các đề tài, dự án cấp Tỉnh được phê duyệt năm 2013Danh mục các đề tài, dự án cấp Tỉnh được phê duyệt năm 2013
Ngày 21/02/2013, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh chính thức phê duyệt danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2013 tại Quyết định số 334/QĐ-UBND

 

 

Danh mục gồm 09 đề tài và dự án:

I. Lĩnh vực khoa học xã hội

1. Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận cơ sở tỉnh Tây Ninh

    Cơ quan chủ trì: Ban Dân vận Tỉnh ủy Tây Ninh.

2. Giải pháp nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý tại tỉnh Tây Ninh từ nay đến năm 2020.

    Cơ quan chủ trì: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh.

3. Giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT tỉnh Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh.

4. Điều tra, nghiên cứu và xây dựng mô hình tổ chức hoạt động các trung tâm văn hóa, sinh hoạt cộng đồng xã, phường, thị trấn và nhà văn hóa ấp, khu phố trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Trung tâm Văn hóa tỉnh Tây Ninh.

5. Biên soạn tài liệu văn học địa phương tỉnh Tây Ninh để giảng dạy trong trường phổ thông.

    Cơ quan chủ trì: Sở Giáo dục và Đào tạo Tây Ninh.

II. Lĩnh vực khoa học và công nghệ

6. Điều tra, nghiên cứu biện pháp chẩn đoán, phòng trừ bệnh hại chính trên cây khoai mì tại Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường Đại học Nông Lâm.

7. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sau thu hoạch vào duy trì chất lượng và kéo dài thời gian bảo quản cho quả mãng cầu ta Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Tây Ninh.

III. Lĩnh vực khoa học Y, Dược

8. Đánh giá tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông tại Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Trung tâm Kiểm dịch Y tế Quốc tế Tây Ninh.

9. Đánh giá các yếu tố nguy cơ của những bệnh không lây ở Tây Ninh.

    Cơ quan chủ trì: Viện vệ sinh Y tế công cộng Tp.HCM

 

Quyết định và Danh mục cụ thể kèm theo

 

 

 

03/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sáng kiến cấp tỉnh năm 2016: Đề nghị công nhận hơn 40 sáng kiến cấp tỉnh Sáng kiến cấp tỉnh năm 2016: Đề nghị công nhận hơn 40 sáng kiến cấp tỉnh
Ngày 22/02/2017, tại phòng họp Sở Khoa học và Công nghệ, hội đồng xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh đã tổ chức họp lần thứ 3 để đánh giá các sáng kiến cấp tỉnh.

hoidongsangkien.JPG

Hội đồng xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh.

Hội đồng xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh được thành lập theo Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 05/01/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh gồm 13 thành viên, do đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Chủ tịch hội đồng, đồng chí Nguyễn Văn Hùng, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ làm Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng.

Năm 2016, với vai trò Thường trực Hội đồng, Sở Khoa học và Công nghệ đã tiếp nhận 05 hồ sơ đề nghị đặc cách công nhận sáng kiến (trong đó có 02 đơn vị cùng đề nghị 01 sáng kiến), 47 hồ sơ đề nghị xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh (trong đó có 02 đơn vị cùng đề nghị 01 sáng kiến).

Sau 03 ngày làm việc tâm huyết, trách nhiệm vào các ngày 19/01/2017, 15/02/2017 và 22/02/2017 tại Sở Khoa học và Công nghệ, Hội đồng đã thống nhất kết quả trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt: 04 đề tài được đặc cách công nhận sáng kiến cấp tỉnh, 43 sáng kiến đạt yêu cầu, 03 sáng kiến không đạt yêu cầu.

Đây là năm đầu tiên, tỉnh triển khai thực hiện Quy định về hoạt động sáng kiến tỉnh Tây Ninh theo Quyết định số 66/2015/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong quá trình tổ chức thực hiện Quyết định số 66/2015/QĐ-UBND, thành viên Hội đồng cũng đề xuất Sở Khoa học và Công nghệ tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung những nội dung còn bất cập, chưa rõ ràng trong Quy định về hoạt động sáng kiến ban hành kèm theo Quyết định số 66/2015/QĐ-UBND.

                                                                                       KGVX

24/02/2017 10:00 SAĐã ban hành
Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực tại tỉnh Tây NinhỨng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực tại tỉnh Tây Ninh
Mới đây, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh tổ chức họp Hội đồng xét duyệt đề cương đề tài “Ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Tây Ninh” do Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Thủy - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II chủ trì thực hiện.

Tom Cang.jpg

Toàn cảnh buổi họp

Đề tài dự kiến thực hiện trong 12 tháng, tại khu vực (Kênh Đông, Kênh Tây và sông Vàm Cỏ Đông) có vị trí địa lý và điều kiện sinh thái đáp ứng đủ điều kiện nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực. Mục tiêu áp dụng tiến bộ khoa học nuôi thương thẩm tôm càng xanh vào thực tiễn sản xuất, cải thiện chất lượng tôm thương phẩm bằng con giống toàn đực nhằm thúc đẩy nghề nuôi tôm càng xanh phát triển ở Tây Ninh. Góp phần nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống người dân vùng nuôi thủy sản tại địa phương.

Hội đồng xét duyệt đề cương thống nhất thông qua. Song, Hội đồng xét duyệt đề nghị cơ quan chủ trì, chủ nhiệm đề tài hoàn chỉnh lại các nội dung theo góp ý và gửi về Sở KH&CN để tiến hành thủ tục theo quy định./.

Phòng TT-SHTT

25/03/2015 3:00 CHĐã ban hành
Đề tài, dự án Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2014Đề tài, dự án Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2014
Danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ được phê duyệt năm 2014

 Sở Khoa học và Công nghệ Tây Ninh thông báo 

Danh mục các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2014

(Kèm theo Quyết định và Danh mục)

 

Theo http://sokhcn.tayninh.gov.vn

 

23/04/2015 11:00 SAĐã ban hành
Đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015Đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015
Danh mục đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015

Sở Khoa học và công nghệ thông báo 

Danh mục đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh được phê duyệt năm 2015

(Kèm theo Quyết định và Danh mục)

 

Theo http://sokhcn.tayninh.gov.vn

 

23/04/2015 11:00 SAĐã ban hành
Đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018Đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2018
Nhằm xây dựng nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) năm 2018 phục vụ thiết thực mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, giải quyết những vấn đề cấp thiết của ngành và địa phương, nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN vào thực tiễn. Sở KH&Cn Tây Ninh xin thông báo đến các tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN và các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đề xuất nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh thực hiện năm 2018.

Toàn văn thông báo:  Tải về TB-De xuat DTDA 2018( trinhky-13.12)_Signed.pdf

Biểu mẫu:  Tải về BM de xuat DA MN NT 2018.doc


​Theo sokhcn.tayninh.gov.vn

16/02/2017 4:00 CHĐã ban hành
Công  nhận sáng kiến cấp tỉnhCông  nhận sáng kiến cấp tỉnh
Ngày 28/3/2017, Ủy ban dân tỉnh ban hành Quyết định số 690/QĐ-UBND về công nhận sáng kiến cấp tỉnh.

Theo đó, có 4 đề tài được xét đặc cách và 43 sáng kiến được công nhận (03 sáng kiến được xếp loại A, 33 sáng kiến được xếp loại B và 07 sáng kiến được xếp loại C). Đây cũng là điều kiện để xét công nhận đạt danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh".

Danh sách công nhận sáng kiến kèm theodanhsachcongnhansangkienct.rar

                                                                                        KGVX

04/04/2017 8:00 SAĐã ban hành
Tác động của trò chơi trực tuyến (Game online) đến sự phát triển nhân cách học sinh THPT tỉnh Tây NinhTác động của trò chơi trực tuyến (Game online) đến sự phát triển nhân cách học sinh THPT tỉnh Tây Ninh
Ngày 16/4/2015, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Tây Ninh đã tổ chức nghiệm thu đề tài cấp tỉnh: “Tác động của trò chơi trực tuyến (Game online) đến sự phát triển nhân cách học sinh THPT tỉnh Tây Ninh” do Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh chủ trì thực hiện.

Hoidong.jpg

Hội đồng nghiệm thu đề tài có sự tham dự của bà Phạm Thị Lan Hương – GĐ Sở KH&CN, Chủ tịch Hội đồng; ông Huỳnh Văn Nghiệp - PCT Liên hiệp các Hội KH&KT Tây Ninh; PGS.TS Ngô Minh Oanh – Viện nghiên cứu giáo dục (Trường ĐH Sư phạm TP.HCM); TS. Ngô Xuân Điệp – Trường Đại học KHXH&NV TP.HCM tham gia phản biện cùng các thành viên đang công tác tại các Sở, ngành có liên quan.

Với nội dung nghiên cứu những tác động của trò chơi trực tuyến game online đến sự phát triển nhân cách của học sinh, từ đó đề xuất một số giải pháp hỗ trợ gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội hướng dẫn học sinh sử dụng game online một cách có hiệu quả.

Hội đồng nghiệm thu đánh giá: Đề tài góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo; phát triển nhân các của học sinh phù hợp với tiêu chí của xã hội và hạn chế các tác động tiêu cực của việc chơi game online không lành mạnh trong học sinh THPT. Đồng thời, Hội đồng đề nghị Ban chủ nhiệm đề tài bổ sung và hoàn chỉnh báo cáo theo góp ý của các thành viên Hội đồng trước khi trình phê duyệt công nhận kết quả.

Hội đồng nghiệm thu thống nhất đề tài đạt loại: Khá./.

Phòng TT – SHTT

22/04/2015 4:00 CHĐã ban hành
Biên hội loạt bản đồ địa chất thủy văn (tỉ lệ 1/50.000) và ứng dụng tin học trong quản lý nguồn nước dưới đất phục vụ cho quy hoạch khai thác tài nguyên tỉnh Tây NinhBiên hội loạt bản đồ địa chất thủy văn (tỉ lệ 1/50.000) và ứng dụng tin học trong quản lý nguồn nước dưới đất phục vụ cho quy hoạch khai thác tài nguyên tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Nguyễn Tiến Tùng Cơ quan chủ trì: Sở Tài nguyên và Môi trường Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2006 - 2007 Thời gian nghiệm thu: 2008 Kinh phí thực hiện: 648.857,5 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

- Làm sáng tỏ quy luật phân bố tài nguyên nước dưới đất, diễn biến số lượng và chất lượng nước dưới đất do tác động của các hoạt động kinh tế ở tỉnh Tây Ninh trong thập kỷ gần đây.

- Đề xuất công cụ khoa học và giải pháp quy hoạch, quản lý và bảo vệ bền vững tài nguyên nước dưới đất.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Thu thập tài liệu, điều tra bổ sung, đánh giá chất lượng và trữ lượng nước dưới đất.

- Biên hội loạt bản đồ địa chất thủy văn tỉnh Tây Ninh tỷ lệ 1/50.000.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất thủy văn tỉnh Tây Ninh.

- Lập một mô hình dòng chảy nước dưới đất cho toàn bộ khu vực Gò Dầu - Bến Cầu - Trảng Bàng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Biên hội các bản đồ: bản đồ địa chất thủy văn tỷ lệ 1/50.000; Bản đồ triển vọng khai thác nước dưới đất tỷ lệ 1/50.000; Các bản đồ phụ trợ và 7 phụ lục; Cơ sở dữ liệu địa chất thủy văn; Mô hình dòng chảy khai thác nước dưới đất khu vực Gò Dầu, Bến Cầu, Trảng Bàng.

- Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có 203.616 công trình khai thác nước dưới đất, trong đó có 83.813 giếng đào vá 119.803 lỗ khoan. Lưu lượng khai thác nước dưới đất phục vụ ăn uống, sinh hoạt, sản xuất là 110.248 m3/ngày.

- Theo sự phân chia địa tầng mới nhất, Tây Ninh được phân chia 8 tầng chứa nước (6 tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích bở rời, 2 tầng chứa nước khe nứt trong đá bazan Pleistocen giữa và các đá nứt nẻ trước Kainozoi) và 8 thành tạo địa chất rất nghèo nước;

- Các tầng chứa nước theo thứ tự từ trên xuống dưới: tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen trên (qp3); Pleistocen giữa - trên (qp2-3); tầng chứa nước khe nứt Pleistocen giữa (@qp3); tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen dưới (qp1); tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen giữa (n22); tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen dưới (n12 ); tầng chứa nước lỗ hổng Miocen trên (n31); tầng chứa nước khe nứt Mesozoi - Paleozoi (ps-ms);

- Trong 8 tầng chứa nước nêu trên, có 5 tầng chứa nước lỗ hỗng: (qp2-3); (qp1); (n22 ); (n12 ); (n31) có khả năng khai thác với quy mô lớn. Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen trên (qp3) và quanh vùng lộ của các tầng chứa nước khe nứt Pleistocen giữa và (ps-ms) (ở huyện Tân Châu) đáp ứng cho nhu cầu khai thác nhỏ lẻ đến quy mô vừa.

- Nước dưới đất trong các tầng chủ yếu là nước siêu nhạt, các chỉ tiêu hoá lý đáp ứng được tiêu chuẩn ăn uống; các chỉ tiêu đáng lưu ý nhất về chất lượng nước dưới đất phục vụ cho ăn uống là: pH, hàm lượng sắt và nhôm, hàm lượng Nitrat.

- Trữ lượng khai thác nước dưới đất tiềm năng của tỉnh: 5.099.887 m3/ngày. Trong đó trữ lượng tĩnh trọng lực là 3.387.334 m3/ngày; trữ lượng tĩnh đàn hồi 66.263 m3/ngày. Nguồn bổ cập từ nước mưa: 1.560.561 m3/ngày; nguồn bổ cập từ bên sườn: 11.585 m3/ngày; nguồn bổ cập từ hồ Dầu Tiếng: 74.144 m3/ngày.

- Hiện trạng mực nước và các nguồn nước hình thành trữ lượng được nghiên cứu và tính toán định lượng; đây là những thông tin hữu ít giúp cho việc nghiên cứu và khai thác tài nguyên này cho vùng nghiên cứu;

- Dựa trên các tiêu chí về tỷ lệ tăng dân số, lượng nước tiêu thụ trên đầu người, công nghiệp, thương mại, lượng thất thoát; cho năm 2010 và 2015 là 136.237 m3/ngày và

212.166 m3/ngày.

- Đến cuối năm 2010 ở hầu hết các huyện và thị xã Tây Ninh điều có sự thiếu hụt nước dưới đất so với lượng khai thác hiện nay, lượng thiếu hụt tổng cộng là 20.791 m3/ngày. Đến năm 2015 thì tất cả các huyện và thị xã Tây Ninh điều có sự thiếu hụt nước dưới đất so với lượng khai thác hiện nay, lượng thiếu hụt tổng cộng là 70.492 m3/ngày.

- Căn cứ theo hiện tại và quy hoạch các cụm và khu công nghiệp trên toàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020, tính toán được tổng nhu cầu nước cho 26 cụm và khu công nghiệp là 403.225 m3/ngày.

- Công cụ khoa học và giải pháp quy hoạch, quản lý và bảo vệ bền vững tài nguyên nước dưới đất: cập nhật số liệu thường xuyên bằng các số liệu từ mạng quan trắc và điều tra hiện trạng; tiến hành một số thí nghiệm để xác định chính xác các thông số của mô hình; đào tạo các chuyên gia ĐCTV (địa chất thủy văn) và mô hình.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 290/QĐ-UBND ngày 23/02/2009. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở cho việc thẩm định hồ sơ xin cấp phép khai thác nước dưới đất; giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; giấy phép thăm dò nước dưới đất; sử dụng tài nguyên nước.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu nguyên nhân gây ra dông sét và đề xuất các giải pháp phòng tránh làm giảm nhẹ thiệt hại trong khu vực Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu tỉnh Tây NinhNghiên cứu nguyên nhân gây ra dông sét và đề xuất các giải pháp phòng tránh làm giảm nhẹ thiệt hại trong khu vực Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: TS. Lê Ngọc Thanh Cơ quan chủ trì: Phân viện Địa lý TP.HCM (nay là Viện Địa lý Tài nguyên TP.HCM) Thời gian thực hiện: 2006 - 2008 Thời gian nghiệm thu: 2010 Kinh phí thực hiện: 572,404 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

-     Xác định các nguyên nhân xuất hiện dông sét có tính tập trung cao; phổ biến kiến thức và cung cấp tài liệu cho nhân dân nhằm nâng cao sự hiểu biết về dông sét, trên cơ sở đó hướng dẫn người dân các biện pháp tự phòng tránh.

-     Đề xuất các giải pháp phòng tránh có hiệu quả nhằm làm giảm nhẹ các thiệt hại do hiện tượng dông sét gây ra trong các khu vực nghiên cứu.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-     Điều tra và lập cơ sở trong nhân dân ghi nhận xuất hiện dông sét.

-     Số hóa các bản đồ: 36 sơ đồ, bản đồ.

-     Thực hiện 6 chuyên đề gồm: Nghiên cứu địa vật lý - cấu trúc địa chất; Nghiên cứu đặc điểm đại chất trầm tích; Nghiên cứu đặc điểm khí hậu - khí tượng; Nghiên cứu diễn biến sử dụng đất qua các thời kỳ; Nghiên cứu đặc điểm địa hình - địa mạo; Nghiên cứu đặc điểm địa chất công trình - địa chất thủy văn.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-     Dông sét là một hiện tượng ngẫu nhiên, tùy theo đặc điểm tự nhiên của nó có thể xảy ra trong khu vực này nhiều hơn so với khu vực khác.

-     Xác định được nguyên nhân tổng quát xuất hiện dông sét trong khu vực Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu: các dạng hình thế thời tiết ảnh hưởng đến Tây Ninh, và đặc điểm địa hình của Tây Ninh khu vực lân cận, tác động của biến động khí hậu trong 30 năm trở lại đây.

+ Các dạng hình thế thời tiết ảnh hưởng đến Tây Ninh: trong tháng 4, vào thời kỳ mưa chuyển mùa, áp thấp nóng Ấn Miến tiếp tục phát triển mạnh hơn sang phía đông, tạo nên rãnh thấp gió mùa theo hướng Tây - Đông vắt qua 25 ÷ 27 vĩ độ Bắc;

+ Cuối tháng 4 đầu tháng 5, áp thấp nóng phát triển nhanh sang phía đông, kết hợp với hình thành một xoáy thuận nhiệt đới với vịnh Bengal, gió Tây Nam có cường độ yếu bắt đầu xuất hiện trên miền Đông Nam Bộ. Hoạt động của gió mùa Tây Nam là nguyên nhân chủ yếu gây nên mưa trong những tháng đầu mùa mưa;

+ Trong mùa mưa ở khu vực Nam Bộ thường xảy ra những đợt ít mưa kéo dài từ 5 đến 10 ngày (khoảng tháng 6 đến tháng 8), sau các đợt này thường xuất hiện dông mạnh kèm theo mưa to.

+ Đặc điểm địa hình của Tây Ninh và khu vực lân cận: nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi cao nguyên Nam Trung Bộ và ĐBSCL, nên địa hình Tây Ninh nghiêng từ Đông Bắc xuống Tây Nam;

+ Vùng Bến Cầu trũng hơn hai huyện Tân Biên và Tân Châu, gió Tây Nam đến huyện Bến Cầu, qua đồng bằng Campuchia khô hạn, không khí nóng và gặp sự bốc hơi mạnh nên điều kiện thuận lợi cho việc hình thành mây dông;

+ Khi thời tiết chuyển mùa với trường gió lệch đông đến Đông Nam xuất hiện thì địa hình vùng Tân Biên, Tân Châu lại là nơi đón gió sớm hơn phần phía Tây, những khối mây tích vũ hình thành từ biển vào dẫn đến hệ quả là vào nửa cuối tháng 9 đến tháng 10, khu vực này có dông sét nhiều hơn các khu vực khác;

+ Lượng mưa nhiều dẫn đến khả năng xuất hiện dông sét nhiều; từ đó cho phép đưa ra dự báo thời gian xảy ra dông sét hàng năm trong khu vực nghiên cứu: thời gian thường có dông sét trong ngày là từ 15 giờ trở đi; hiện tượng dông sét xảy ra vào các tháng : IV, V, VI, IX, X;

+ Tân Biên xảy ra dông sét nhiều từ tháng 4 đến tháng 7 (trong mùa gió mùa Tây Nam); Tân Châu xảy ra dông sét nhiều từ tháng 5 tháng 8, và tháng 9 (cả trong mùa gió mùa Tây Nam và Đông Nam); Bến Cầu xảy ra dông sét nhiều từ tháng 5 đến tháng 7 (trong mùa gió mùa Tây Nam).

+ Tác động của biến động khí hậu trong 30 năm trở lại đây: nhiệt độ không khí và nhiệt độ mặt đất, tốc độ gió mạnh nhất, lượng bốc hơi, lượng năm đều có xu hướng tăng; số giờ nắng lại giảm.

-     Nguyên nhân đặc thù xuất hiện dông sét có tính chọn lọc trong khu vực Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu xuất phát từ các điều kiện tự nhiên đặc thù bao gồm: đặc điểm mật độ dông sét, địa hình, hiện trạng sử dụng đất, đất ngập nước, địa chất, địa chất thủy văn, điện trở suất và từ trường.

-     Đã xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ sét đánh cho khu vực Tân Biên, Tân Châu và Bến Cầu.

-     Đã đưa ra dự báo dông sét hàng năm trong khu vực nghiên cứu.

-     Đã đề xuất các giải pháp cụ thể để phòng tránh làm giảm nhẹ thiệt hại về người và của cải vật chất do dông sét gây ra trong khu vực nghiên cứu gồm giải pháp công trình (sử dụng các thiết bị chống sét như thu lôi, cắt lọc sét; công trình trú sét cho người lao động ngoài trời; hệ thống cảnh báo sớm dông sét) và phi công trình (các biện pháp giáo dục về phòng tránh sét; tăng cường phổ biến kiến thức phòng tránh qua truyền thông đại chúng).

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 853/QĐ-UBND ngày 19/4/2011. Kết quả nghiên cứu được chuyển giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Giao thông Vận tải; Sở Xây dựng; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Chi cục Thủy lợi) ứng dụng trong công tác quản lý của ngành và sử dụng kết quả nghiên cứu đề tài làm tài liệu tham khảo trong việc tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân về kiến thức phòng tránh dông sét, giảm nhẹ rủi ro do thiên tai gây ra.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975 – 1995) và tổng kết truyền thống Cách mạng các xã anh hùng (1945 – 1975) tỉnh Tây NinhNghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975 – 1995) và tổng kết truyền thống Cách mạng các xã anh hùng (1945 – 1975) tỉnh Tây Ninh
Chủ nhiệm đề tài: CN. Lê Minh Trọng Cơ quan chủ trì: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2000 - 2002 Thời gian nghiệm thu: 2007 Kinh phí thực hiện: 717,28 triệu đồng (hỗ trợ kinh phí) Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

MỤC TIÊU

- Đối với cấp huyện, thị: nghiên cứu biên soạn lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975- 1995) nhằm nêu bật vai trò lãnh đạo của Đảng bộ địa phương trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từ thực tiễn của 20 năm, rút ra những bài học kinh nghiệm để tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.

- Đối với cấp xã: Nêu bật vai trò của Đảng bộ xã lãnh đạo và chỉ đạo phong trào chiến tranh nhân dân trên địa bàn của mình, vượt mọi khó khăn gian khổ hy sinh lập nên những chiến tích anh hùng, đánh bại những âm mưu thủ đoạn của thực dân pháp và đế quốc Mỹ trên địa phương của mình.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ các huyện: Thị xã, Châu Thành, Hòa Thành, Bến Cầu, Tân Biên, Dương Minh Châu, Tân Châu, Gò Dầu, Trảng Bàng và 17 xã anh hùng như: Phường 1, Phường 2 thị xã Tây Ninh; An Thạnh huyện Bến Cầu; Chà Là, Cầu Khởi huyện Dương Minh Châu; Hiệp Thạnh, Thanh Phước huyện Gò Dầu; Lộc Hưng, Gia Lộc huyện Trảng Bàng; Trường Đông, Ninh Thạnh huyện Hòa Thành; Thạnh Bình, Hòa Hiệp huyện Tân Biên; Tân Đông, Tân Hưng huyện Tân Châu; Thanh Điền, Thái Bình huyện Châu Thành.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tài liệu chuẩn xác về lịch sử Đảng bộ cấp huyện, thị (1975 - 1995) và truyền thống cách mạng 17 xã anh hùng (1945 - 1975) tỉnh Tây Ninh .

- Lịch sử Đảng bộ huyện Châu Thành (1975 - 2000)

+ Đảng bộ và quân dân Châu Thành phấn khởi thấy huyện nhà đã có bước tiến khá dài, đạt được những thành tựu rất quan trọng. Đến năm 2000, lương thực bình quân đầu người đạt 934,2 kg/năm; sản lượng công nghiệp tăng hàng trăm lần so với năm 1976; hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển sôi động và khá nhộn nhịp, cơ sở hạ tầng phát triển nhanh.

+ Đảng bộ, Mặt trận ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng (Đảng bộ tăng 3,5 lần; Mặt trận, đoàn thể tăng từ 5 đến 10 lần); bộ máy chính quyền ngày càng được củng cố vững chắc.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Trảng Bàng (1975 - 2000).

+ Trảng Bàng được xác định là huyện trọng điểm về sản xuất lương thực của tỉnh Tây Ninh; các lĩnh vực văn hóa xã hội có những bước tiến tích cực. Hệ thống tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể được xây dựng và kiện toàn, chính trị từng bước được ổn định dần và được củng cố vững chắc hơn.

+ Kinh tế nhiều thành phần phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn được đẩy mạnh; giao thông từ huyện về xã được nhựa hóa, đường về các ấp được nâng cấp trãi sỏi đỏ, thuận lợi cho đi lại của nhân dân; hệ thống điện lưới quốc gia đã về 100% ấp; sự nghiệp giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng.

+ Đảng bộ huyện Trảng Bàng luôn tăng về số lượng và chất lượng; đến năm 2000, toàn Đảng bộ đã có 2001 đảng viên sinh hoạt ở 49 chi đảng bộ cơ sở. Tất cả các ấp trong huyện điều có chi bộ lãnh đạo.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Bến Cầu (1975 - 2000).

+ Thời kỳ 10 năm sau giải phóng, nhiệm vụ chính là cải tạo, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, lấy sản xuất lương thực làm nhiệm vụ trung tâm hàng đầu, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, khôi phục và phát triển các ngành sản xuất, các hoạt động văn hóa - xã hội để từng bước ổn định đời sống nhân dân.

+ Từ năm 1991 - 2000, giai đoạn này tình hình kinh tế - xã hội của huyện đi vào thế ổn định và phát triển khởi sắc, khá toàn diện. Việc vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương từng bước phù hợp và có hiệu quả hơn, từ đó đã tạo ra được những bước tiến khá mạnh mẽ trên các lĩnh vực.

- Lịch sử Đảng bộ Thị Xã (1975 - 2000).

+ Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ Thị Xã cùng với sự nổ lực của nhân dân Thị xã đã trãi qua những bước thăng trầm của từng thời kỳ lịch sử, cố gắng vượt qua nhiều khó khăn thử thách để từng bước đi lên, nhất là từ khi có đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, đã nổ lực phấn đấu để xây dựng Thị xã Tây Ninh thành một Thị xã hoàn chỉnh là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Tân Châu (1989 - 2000).

+ Tân Châu là huyện mới thành lập, cho nên việc phát triển cơ sở hạ tầng được Đảng bộ huyện xác định là nhiệm vụ trọng tâm; ưu tiên đầu tư cho phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa; các hoạt động kinh tế - xã hội, giáo dục đào tạo tác động tích cực vào quá trình ổn định xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Gò Dầu (1975 - 2000).

+ Trên cơ sở phát huy truyền thống cách mạng tốt đẹp của mình và thuận lợi tiềm năng kinh tế - xã hội, dưới sự lãnh đạo sâu sát của Đảng cấp trên; toàn Đảng bộ và nhân dân huyện Gò Dầu vẫn từng bước kiên trì vươn lên, nỗ lực thực hiện và giành được nhiều thành tựu đáng kể trên hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động, tạo tiền đề để huyện bước vào thời kỳ mới tốt đẹp hơn.

+ Về sản xuất nông nghiệp, tổng diện tích gieo trồng năm 2000 tăng 2,1 lần so năm 1997; mạng lưới thủy lợi được hình thành khắp trong toàn huyện với 46,6 km kênh cấp I; 103,8 km kênh cấp II và 150 km kênh cấp III đảm bảo phục vụ tưới tiêu cho hơn 4.000 ha cây trồng toàn huyện.

+ Về sản xuất công nghiệp - tiểu thủ: ngày càng phát triển, nhất là xay xát và chế biến, các yêu cầu về sửa chữa cơ khí được đáp ứng tốt; cơ sở vật chất hạ tầng của huyện ngày càng được tập trung xây dựng và mở rộng.

+ Các hoạt động văn hóa - xã hội; ngày càng có sự chuyển biến đáng kể; nhu cầu học tập của con em nhân dân được đáp ứng tốt; trang thiết bị ngành Y tế được tăng cường, đội ngũ Y-Bác sĩ được bồi dưỡng, đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Tân Biên (1975 - 2000)

+ Tân Biên chỉ thực sự bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế từ những năm 80 của thế kỷ 20; đây là giai đoạn đặc biệt trong bối cảnh những khó khăn chung của đất nước, đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân Tân Biên từng bước vượt qua, tổ chức ổn định đời sống nhân dân, giữ vững an ninh địa bàn và tiếp tục củng cố xây dựng lực lượng bảo đảm vững chắc biên giới.

+ Từ năm 1990 - 2000, Đảng bộ Tân Biên quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ và tạo đà vững chắc bước vào thế kỷ XXI; tiếp tục củng cố và phát triển huyện nhà ngày càng giàu đẹp.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Dương Minh Châu (1975 - 2000)

+ Về công tác xây dựng Đảng, huyện đã quan tâm tổ chức nhiều đợt học tập chỉnh huấn nghị quyết của Đảng; không ngừng cải tiến tác phong lề lối làm việc, xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ, gắn liền với tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

+ Đảng bộ huyện Dương Minh Châu xác định; xây dựng Đảng vững mạnh trên cả 3 mặt (chính trị, tư tưởng và tổ chức) là nhiệm vụ hàng đầu có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi.

+ Quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân của huyện là quá trình phát huy truyền thống yêu nước, tin Đảng, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn lịch sử.

- Truyền thống cách mạng của 17 xã anh hùng: đã trải qua nhiều hy sinh gian khổ, cùng một lúc phải đương đầu trực tiếp với nhiều kẻ thù nguy hiểm. Nhưng nhân dân các xã quyết một lòng theo Đảng, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Sản phẩm đề tài được Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy in thành sách gồm: sách lịch sử đảng bộ cấp huyện, thị (1975 - 2000); sách truyền thống cách mạng 17 xã anh hùng (1945 - 1975).

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công nhận đề tài: "Xây dựng kế hoạch bảo tồn các loài Linh Trưởng ở Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát tỉnh Tây Ninh".Công nhận đề tài: "Xây dựng kế hoạch bảo tồn các loài Linh Trưởng ở Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát tỉnh Tây Ninh".

Công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh sau:

- Tên đề tài: "Xây dựng kế hoạch bảo tồn các loài Linh Trưởng ở Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát tỉnh Tây Ninh".

- Cơ quan chủ trì : Ban Quản lý Vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát.

- Chủ nhiệm đề tài: KS. Tạ Ngọc Dân.

- Xếp loại: Đạt.

1467.PDF

08/06/2018 10:00 SAĐã ban hànhTin
Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống
Qua 2 năm phát động, Hội thi đã tiếp nhận 110 giải pháp thuộc 5 lĩnh vực, trong đó có 38 giải pháp đoạt giải, đạt tỷ lệ 34,54%. Các giải thưởng gồm: 2 giải Nhì (không có giải Nhất), 16 giải Ba và 20 giải Khuyến khích.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Lão nông Lê Văn Dĩ trong vườn rau thơm xen rau rừng phủ lưới che.

Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tây Ninh lần thứ 10 năm 2016-2017 do Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) chủ trì phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ, Tỉnh đoàn, Liên đoàn Lao động tỉnh tổ chức nhằm khơi dậy tiềm năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

Qua 2 năm phát động, Hội thi đã tiếp nhận 110 giải pháp thuộc 5 lĩnh vực, trong đó có 38 giải pháp đoạt giải, đạt tỷ lệ 34,54%. Các giải thưởng gồm: 2 giải Nhì (không có giải Nhất), 16 giải Ba và 20 giải Khuyến khích.

Tuy số lượng có giảm so với Hội thi lần thứ 9, năm 2014-2015 (110 so với 163 giải pháp), nhưng điểm nổi bật là các mô hình/giải pháp đoạt giải thưởng đều thể hiện được tính mới mẻ, sáng tạo, đặc biệt là tính ứng dụng cao, có khả năng giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lao động sản xuất và công tác, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Lãnh đạo tỉnh và các ban, ngành chụp ảnh lưu niệm trong đợt tham quan, khảo sát giải pháp “Máy trồng mì” của cơ sở cơ khí Trần Quốc Hải.

Lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử viễn thông có 5 giải pháp dự thi. Trong những kỳ hội thi trước đây, số giải pháp dự thi ở lĩnh vực này không nhiều, người dự thi hầu hết là cán bộ thuộc Sở Thông tin - Truyền thông và ngành Giáo dục - Ðào tạo. Cả 2 giải pháp đoạt giải lần này đều là ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.

Giải pháp “Ứng dụng ngôn ngữ lập trình C vào Kit arduino góp phần nâng cao năng lực hợp tác của sinh viên ngành CNTT” của nhóm giảng viên Trường cao đẳng Sư phạm Tây Ninh (Trần Phong Vũ, Công Tôn Nữ Lương Thành, Ðặng Văn Tráng); tuy thiết bị Arduino không mới nhưng việc ứng dụng ngôn ngữ lập trình C là sự sáng tạo trong việc tạo ra sản phẩm “Thiết bị tưới thông minh dành cho hệ thống thuỷ canh ghép động-tĩnh”, tạo hứng thú học tập cho sinh viên và có được sản phẩm thực tế phục vụ giảng dạy.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Dàn bón phân định lượng của Phạm Văn Hùng (Tân Châu).

Lĩnh vực “Công nghiệp, xây dựng, giao thông, vận tải” có 35 giải pháp dự thi và tất cả đều là giải pháp công nghiệp (không có xây dựng và giao thông vận tải). Hầu hết các giải pháp là cải tiến, sáng chế thiết bị phục vụ nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu bức thiết trong sản xuất và đời sống; nhiều tác giả đoạt giải ở lĩnh vực này đã từng có giải cao ở những kỳ hội thi trước đây như: Phạm Văn Hùng (cơ sở cơ khí Tư Hùng ở Tân Châu), Trần Quốc Hải (cơ sở cơ khí Trần Quốc Hải- Tân Châu), Trịnh Thành Nghiêm (Công ty cổ phần Cấp thoát nước Tây Ninh)…

Giải pháp “Sáng chế dụng cụ gắn máng che mưa trên cây cao su” của Trần Văn Long- công nhân Nông trường Cao su Tân Biên có chi phí chế tạo thấp, lại vận hành dễ dàng và hiệu quả, có khả năng áp dụng rộng rãi trong toàn ngành cao su. Còn giải pháp “Cải tiến xe vận chuyển mủ thành xe chữa cháy trên vườn cao su” của Nguyễn Văn Tài- Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi có thể giải quyết được vấn đề phòng cháy chữa cháy (PCCC) tại chỗ của đơn vị, và có khả năng áp dụng rộng rãi trong các nông trường cao su cũng như các vườn cây lớn, các khu vực rừng tự nhiên và khu dân cư.

Trong khi đó, giải pháp “Máy trồng mì” và “Máy thu hoạch khoai mì” của Trần Quốc Hải đã hoàn chỉnh quy trình “cơ giới hoá cây mì” với hiệu quả cao khi thử nghiệm ở Tây Ninh, Bình Phước và Campuchia (máy đã được bán hơn 50 chiếc cho nông dân các tỉnh). Giải pháp “Máy trộn và sấy muối ớt” của Nguyễn Quốc Thái ở xã Long Thành Bắc, huyện Hoà Thành lại là một sáng tạo có tính năng công nghệ cao, phù hợp với nhu cầu sản xuất đặc sản muối ớt tôm ở Tây Ninh.

Giải pháp “Dàn bón phân định lượng” của Phạm Văn Hùng (Tân Châu) đáp ứng nhu cầu bón phân cho những cây trồng cách khoảng (cây cao su non, cây ăn quả…) làm giảm thất thoát phân bón, tăng khả năng hấp thụ cho cây trồng (máy đã được bán ra thị trường hơn 30 chiếc).

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi Nguyễn Văn Tài và một trong những chiếc xe PCCC từ sáng kiến của ông

 

ĩnh vực vật liệu, hoá chất, năng lượng có 5 giải pháp dự thi. “Xử lý sắt và mangan trong nước ngầm không sử dụng hoá chất” của nhóm tác giả Trịnh Thành Nghiêm, Nguyễn Lan Ðình, Nguyễn Văn Hùng thuộc Công ty cổ phần Cấp thoát nước tỉnh ứng dụng công nghệ của Công ty PERNAM cho 2 trạm cấp nước huyện Bến Cầu và Châu Thành, giúp công ty tiết kiệm được chi phí nguyên, nhiên liệu đầu vào cũng như giảm lượng nước tiêu hao trong quá trình xử lý và vận hành hệ thống với nguồn nước thô là nước ngầm; chất lượng nước sau khi xử lý và cung cấp bảo đảm đạt quy chuẩn nước sinh hoạt.

Nông lâm thuỷ sản, tài nguyên và môi trường là lĩnh vực tập trung nhiều giải pháp nhất (40) với hầu hết các tác giả là nông dân. “Nuôi trồng bon sai trong môi trường nước” là giải pháp dự thi của nhóm tác giả thuộc Hội Sinh vật cảnh Tây Ninh (gồm Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thế Long, Nguyễn Trường Giang, Nguyễn Quốc Phương và Trần Hoài Ân) mở ra hướng mới cho người kinh doanh, nuôi trồng sinh vật cảnh, thúc đẩy sự phát triển ngành sinh vật cảnh Tây Ninh.

Còn giải pháp “Trồng rau thơm xen rau rừng phủ lưới che” của tác giả Lê Văn Dĩ- Chủ nhiệm Tổ hợp tác rau rừng VietGAP ấp Lộc Trát, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng đưa ra mô hình kết hợp trồng rau trong lưới che, hạn chế được sâu bệnh, thuốc bảo vệ thực vật, nâng cao năng suất và chất lượng rau; đặc biệt là thuần dưỡng được rau rừng trên diện tích đất nông nghiệp, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng.

Mô hình “Nuôi dơi lấy phân cho hiệu quả kinh tế cao” của Phạm Kim Liên và Lê Thu Thuỷ ở xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu lại phổ biến quy trình nuôi dơi lấy phân để bán, kết hợp phục vụ sản xuất cây trồng trên diện tích đất nuôi dơi, mang đến hiệu quả kinh tế cao và góp phần bảo vệ môi trường.

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thế Long tạo tán cho cây- một khâu trong mô hình “Nuôi trồng bonsai trong môi trường nước”.

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo có 25 giải pháp, được tuyển chọn từ các sáng kiến của các trường trong tỉnh. Giải pháp “Xây dựng cấu trúc đề kiểm tra môn Vật lý theo định hướng phát triển năng lực của học sinh” của tác giả Tạ Xuân Thơ- giáo viên Trường THPT Tây Ninh giúp cải thiện phương pháp giảng dạy và học tập, trong khi “Khảo sát truyện dân gian Tây Ninh” của tác giả Hà Thị Thới - giảng viên Trường CÐSP Tây Ninh, là một nghiên cứu chuyên sâu về thể loại truyện dân gian- nguồn tham khảo hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu về lĩnh vực này.

Hội thi lần này, ban tổ chức đã xét chọn 10 giải pháp (trong số 18 giải pháp đoạt giải Nhì và giải Ba) đưa đi tham dự Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật toàn quốc lần thứ 14 năm 2016-2017 (chưa công bố kết quả).

Những sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống

Chị Phạm Kim Liên và mô hình “Nuôi dơi lấy phân” cho hiệu quả kinh tế cao.

Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật tỉnh Tây Ninh lần này tiếp tục khẳng định đây là nơi hội tụ, phát huy tinh thần lao động sáng tạo, khơi dậy phong trào quần chúng tiến công vào khoa học kỹ thuật. Ðối tượng tham gia khá đa dạng, đủ mọi thành phần, lứa tuổi. Ðiều đáng tiếc là Hội thi phát động 6 lĩnh vực nhưng chỉ có 5 lĩnh vực có giải pháp dự thi, còn lại lĩnh vực y dược không có giải pháp nào.

Riêng 2 lĩnh vực: công nghệ thông tin, điện tử viễn thông và vật liệu, hoá chất, năng lượng còn ít giải pháp dự thi (mỗi lĩnh vực chỉ có 5). Và số lượng giải pháp tham gia Hội thi tổng cộng cũng chỉ có 110- chưa tương xứng với tiềm năng trong tỉnh. Còn nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm việc vận động cán bộ, công nhân tham gia Hội thi.

Hội thi lần này cũng không có giải pháp dự thi từ lực lượng đoàn viên thanh niên. Với ngành Y tế, tuy hằng năm đều có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh và cấp cơ sở, nhưng lại không có giải pháp nào tham gia Hội thi Sáng tạo khoa học và kỹ thuật.

Theo Báo Tây Ninh Online

05/12/2017 10:00 SAĐã ban hành
Ứng dụng EM (EFFECTIVE MICROORGANISMS) vào xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải từ các cơ sở chế biến bột củ mì, cao su trên địa bàn tỉnhỨng dụng EM (EFFECTIVE MICROORGANISMS) vào xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải từ các cơ sở chế biến bột củ mì, cao su trên địa bàn tỉnh
Đồng chủ nhiệm đề tài: ThS. Trịnh Đình Bình và KS. Nguyễn Văn Hùng. Cơ quan chủ trì: Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2004 - 2005 Thời gian nghiệm thu: 2006 Kinh phí thực hiện: 165,812 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá.

 

MỤC TIÊU

- Ứng dụng công nghệ EM vào xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải chế biến khoai mì, cao su.

- Xây dựng quy trình công nghệ sử dụng EM trong xử lý nước thải ở Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Thử nghiệm EM để giảm thiểu nồng độ các chất ô nhiễm CH4 , H2S và NH3, mùi hôi và đẩy nhanh tốc độ phân giải hữu cơ của rác thải sinh hoạt.

- Thử nghiệm EM để giảm thiểu nồng độ các chất ô nhiễm đối với các thông số BOD, COD, SS, mùi hôi trong nước thải chế biến khoai mì.

- Thử nghiệm EM để giảm thiểu nồng độ các chất ô nhiễm đối với các thông số BOD, COD, SS, mùi hôi trong nước thải chế biến cao su.

- Đánh giá hiệu quả kinh tế và xã hội của công nghiệp EM.

- Xây dựng quy trình công nghệ tối ưu để sử dụng EM trong xử lý nước thải ở Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu đã khẳng định có thể áp dụng công nghệ EM vào xử lý môi trường ở tỉnh Tây Ninh vì cho hiệu quả cao và dễ áp dụng. Cụ thể:

- Đối với chất thải rắn: được xử lý bằng cách phun chế phẩm EM thì tốc độ giảm thể tích và độ giảm mùi cao hơn đáng kể so với phân hủy tự nhiên.

+ Rác thải được xử lý phun chế phẩm EM thì tốc độ giảm về thể tích, số lượng côn trùng, ruồi nhặng, mùi cao hơn đáng kể so với không xử lý bằng EM.

+ Sau 27 ngày thí nghiệm trên mô hình cố định, thể tích các thùng (6 thùng; 2m2/thùng) giảm từ 18% - 30%. Nếu để tự nhiên sau 27 ngày thí nghiệm, thể tích các thùng giảm từ 13,3% - 16,7%.

+ Các thùng chứa hoàn toàn là rác thải hữu cơ (đã phân loại) độ cao của rác giảm nhiều hơn các thùng chứa rác hỗn hợp. Thùng phân loại rác sử dụng EM Việt Nam có độ cao của rác giảm nhanh gấp 1,5 lần so với thùng không phân loại sử dụng cùng loại EM. Thùng phân loại rác sử dụng EM Nhật có độ cao của rác giảm không đáng kể so với thùng không phân loại.

+ Xử lý 1m3 rác chỉ khoảng 2.000 đồng, điều đó cho thấy giảm đáng kể cho ngân sách địa phương trong công tác xử lý rác thải.

- Đối với nước thải: Nước thải từ chế biến khoai mì và cao su được xử lý bằng dung dịch EM đã làm giảm mạnh mùi hôi, các chỉ số COD, BOD, SS. Nồng độ EM1 Việt Nam 5%, hiệu quả xử lý tốt, so sánh chế phẩm Việt Nam và Nhật Bản:

+ Nồng độ EM1 Việt Nam, hiệu quả xử lý SS cao hơn EM1 Nhật 2,6 lần.

+ Nồng độ EM1 Việt Nam, hiệu quả xử lý COD cao hơn EM1 Nhật 7,9 lần.

+ Nồng độ EM1 Việt Nam, hiệu quả xử lý BOD5 cao hơn EM1 Nhật 1,8 lần.

+ Theo tính toán ban đầu để giảm nồng độ BOD xuống 45%, nồng độ COD 35% so với nồng độ ban đầu, chi phí này khoảng 800 đ/m3 nước thải.

- Sản xuất chế phẩm EM tại Tây Ninh.

+ Chủng vi sinh: Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Tây Ninh đã ứng dụng các giống vi sinh để sản xuất EM-1 và EM - Bokashi, đánh giá được một số chỉ tiêu thiết yếu như định danh các chủng vi khuẩn lactic thuộc giống Lactobacillus, Streptococcus.

+ Sản xuất dạng pilot: đã thiết lập được thành phần môi trường lên men sản xuất EM-1 và EM - Bokashi từ các nguyên liệu sẵn có ở tỉnh Tây Ninh như rỉ đường mía, cám gạo, khô dầu phộng bột cá, nước chiết giá và một số muối vô cơ.

+ Kết quả kiểm tra, phân tích: qua kết quả kiểm tra khách quan của Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, EM-1 và EM - Bokashi đã sản xuất là những sản phẩm vi sinh có chất lượng tốt, không có các vi sinh vật gây bệnh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 01/02/2007. Kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào xử lý chất thải tại các nhà máy, cơ sở chế biến mì và cao su nhằm giảm thiểu các nguồn gây ô nhiễm môi trường.

 

04/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và Đảng viên trong tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2006 -  2010Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và Đảng viên trong tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2006 -  2010
Chủ nhiệm đề tài: CN. Dương Thị Thu Hiền Cơ quan chủ trì: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh Thời gian thực hiện: 2006 - 2007 Thời gian nghiệm thu: năm 2007 Kinh phí thực hiện: 311,066 triệu đồng Đánh giá xếp loại của Hội đồng nghiệm thu: Khá

 

 

MỤC TIÊU

Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong toàn tỉnh. Phân tích những mặt mạnh, yếu và nguyên nhân.

Đề ra biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong toàn tỉnh Tây Ninh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-  Nghiên cứu, phân tích làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn một cách khoa học về xây dựng tổ chức cơ sở đảng nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các loại hình tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở cơ sở trong toàn tỉnh đảm bảo thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, đáp ứng yêu cầu của cuộc vận động chỉnh đốn Đảng, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới hiện nay.

-  Làm rõ tính cấp bách, cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, tìm nguyên nhân và xác định phương hướng, đề xuất những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên của tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

-  Tính đến 30/9/2006, toàn tỉnh có 599 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 434 chi bộ cơ sở và 165 đảng bộ cơ sở, với 2 đảng bộ bộ phận, 1.450 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở; với tổng số đảng viên là 20.561 đảng viên, chiếm tỉ lệ 1,91% so dân số trong tỉnh, trong đó đảng viên có tôn giáo là 1.430 người, chiếm 9,95% tổng số đảng viên toàn tỉnh, đảng viên là dân tộc ít người: 84 người, chiếm 0,41% tổng số đảng viên toàn tỉnh.

+ Kết quả khảo sát điều tra tình hình thực tế ở 596 tổ chức cơ sở đảng trong toàn tỉnh: hầu hết các tổ chức cơ sở đảng sau mỗi lần đại hội Đảng đều rà soát, bổ sung và xây dựng quy chế làm việc, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể cấp ủy và của từng cá nhân Bí thư, Phó Bí thư và ủy viên cấp ủy

+ Năm 2003 có 503/558 (90,41%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó: số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 184/503 (36,58%) và 1088/1.197 (90,89%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh.

+ Năm 2004 có 493/563 (87,57%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó: số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 94/493 (19,06%) và 1.173/1.285 (91,28%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh.

+ Năm 2005, có 522/577 (90,47%) tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó số tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu: 146/522 (27,96%) và 1.269/1.365 (92,96%) số chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh. So với năm 2003, cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh tăng 0.32%.

+ Mặt yếu kém: một số cấp ủy tuy có xây dựng quy chế nhưng trong quá trình thực hiện không theo quy chế làm việc; lúng túng trong việc xác định nhiệm vụ chính trị, công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở một số cấp ủy chưa thật sự đổi mới, nội dung còn chung chung, hiệu quả không cao, việc phê bình và tự phê bình còn yếu.

-  Chất lượng đội ngũ đảng viên tăng qua các năm: năm 2001(15.878 đảng viên); 2002 (16.929 đảng viên); 2003 (17.909 đảng viên); 2004 (18.939 đảng viên); 2005 (19.840 đảng viên); 2006 (20.561 đảng viên). Tăng bình quân mỗi năm là 5,02%.

+ Các cấp ủy tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng đảng viên gắn với việc xây dựng, củng cố, kiện toàn các tổ chức cơ sở đảng. Công tác kiểm tra, quản lý, phân công cụ thể cho từng đảng viên được thực hiện tốt.

+ Mặt hạn chế: Một bộ phận đảng viên còn thụ động, tinh thần đấu tranh xây dựng chưa cao, còn thờ ơ thiếu trách nhiệm, chưa gương mẫu trong nghiên cứu học tập để nâng cao trình độ năng lực. Năm 2005, khi đánh giá chất lượng đảng viên, có 352/5.542 đảng viên đủ tư cách nhưng có mặt hạn chế chiếm 6,35%, đảng viên vi phạm tư cách chiếm 0,9% (167/18.456 đảng viên).

-  Nguyên nhân mặt làm được: Đảng đề ra nghị quyết về đổi mới và chỉnh đốn Đảng; các cấp ủy Đảng cấp trên cơ sở đề ra hướng dẫn các tiêu chuẩn xây dựng chi, đảng bộ và cụ thể thành biểu điểm thi đua xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ chủ chốt đã xác định đúng vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình và của tổ chức đảng; Trung ương ban hành nhiều Nghị quyết, Quyết định đúng đắn.

-  Nguyên nhân của mặt yếu kém: một số cấp ủy các cấp chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác xây dựng đảng ở cơ sở, chưa chỉ đạo chặt chẽ việc đánh giá đúng chất lượng; một số cấp ủy chưa đổi mới cách thức chỉ đạo đối với cơ sở, hội họp nhiều, chất lượng hội nghị không cao, chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng tổ chức cơ sở đảng; công tác kiểm tra, xử lý kỷ luật của một số tổ chức đảng chưa nghiêm, chưa có biện pháp xử lý kịp thời, kiên quyết.

-  Đề án đã làm rõ được mục tiêu và nhiệm vụ cần nghiên cứu, lý giải tính cấp bách phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các loại hình tổ chức cơ sở đảng trong tỉnh Tây Ninh trước nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

-  Đề án nêu lên một số giải pháp góp phần vào sự lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng của tỉnh ngày càng trong sạch, vững mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong toàn tỉnh, nhằm phấn đấu thực hiện hoàn thành Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh.

KẾT QUẢ ỨNG DỤNG

Đề tài được UBND tỉnh công nhận kết quả nghiệm thu tại Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 24/8/2007. Kết quả đề án làm cơ sở cho Thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết về nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong tỉnh Tây Ninh nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Giám đốc nhiều cải tiến kỹ thuậtGiám đốc nhiều cải tiến kỹ thuật
Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su.

Ông là kỹ sư nông nghiệp, gắn bó với nông trường này gần ba mươi năm. Lúc đầu, ông là trợ lý kỹ thuật, rồi làm phó giám đốc Nông trường, từ năm 2007 đến nay làm giám đốc. Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su. Gần đây nhất, ông có công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

Giám đốc nhiều cải tiến kỹ thuật

Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi Nguyễn Văn Tài bên công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

Tại Ðại hội Công đoàn Công ty cổ phần Cao su Tây Ninh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017- 2022, có một cá nhân được Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng lao động sáng tạo trong phong trào thi đua yêu nước năm 2016. 

Trước đó, ông đã được Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam tặng Bằng khen “Ðã có thành tích xuất sắc trong phong trào sáng kiến, sáng tạo, cải tiến khoa học kỹ thuật trong đơn vị góp phần xây dựng Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam ngày càng vững mạnh”. Người được vinh dự đón nhận Bằng lao động sáng tạo và bằng khen vừa nêu là kỹ sư Nguyễn Văn Tài- Giám đốc Nông trường Cao su Bến Củi (thuộc Công ty cổ phần Cao su Tây Ninh). 

Ông là kỹ sư nông nghiệp, gắn bó với nông trường này gần ba mươi năm. Lúc đầu, ông là trợ lý kỹ thuật, rồi làm phó giám đốc Nông trường, từ năm 2007 đến nay làm giám đốc. Với cương vị là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và sau đó là giám đốc, thời gian qua, kỹ sư Tài đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần rất đáng kể cho ngành cao su. Gần đây nhất, ông có công trình “Cải tiến xe vận chuyển mủ cao su thành xe chữa cháy”.

“Biến” xe chở mủ thành xe chữa cháy

“Phương án lắp đặt đơn giản, chi phí thấp, tính ứng phó kịp thời tại chỗ, tính phổ dụng xã hội hoá cao, nâng cao hiệu quả phòng - chữa cháy” là kết quả ứng dụng công trình của kỹ sư Tài. Ông cho biết, Nông trường cao su Bến Củi quản lý 2.270 ha cao su. Mùa khô cũng là mùa cao su thay lá. Toàn bộ lá trên cây rụng xuống đất thành một lớp khá dày, rất dễ cháy.

Ngoài ra, hằng năm, nông trường thanh lý từ 150 ha đến 200 ha cây cao su trong mùa khô; các cành lá sau khi cưa cắt để lại rất dễ cháy và lây lan đến các vườn cây xung quanh. Thực tế tại nông trường đã xảy ra hai vụ cháy trong quá trình thanh lý vườn cây. Vào mùa khô, nông trường đều lập kế hoạch và phương án phòng cháy, chữa cháy (PCCC), huy động nhiều công nhân cho công tác PCCC, nhưng phương tiện chữa cháy rất thô sơ.

Trước thực trạng đó, kỹ sư Tài băn khoăn suy nghĩ, tìm tòi giải pháp chữa cháy tại chỗ đạt hiệu quả cao. Từ phương tiện sẵn có của nông trường là xe vận chuyển mủ có 3 tank (3 bồn chứa mủ), máy bơm dùng bơm mủ lên tank, kỹ sư Tài nảy sinh ý tưởng chuyển công năng sử dụng từ bồn vận chuyển mủ thành bồn chứa nước và máy bơm mủ thành máy tạo áp lực cho vòi rồng thực hiện việc chữa cháy. Khi mùa khai thác mủ kết thúc, cũng là mùa cao su bắt đầu thay lá, cây ngưng cạo, khi đó bồn chứa mủ, máy bơm mủ được dùng cho xe PCCC.

Kết quả thử nghiệm cho thấy, tất cả các phương tiện được lắp đặt hệ thống chữa cháy do ông Tài thiết kế đều có khả năng di chuyển, tiếp cận điểm cháy với phạm vi hoạt động không hạn chế. Ðộ phun xa của đầu rồng phụ thuộc vào công suất của máy bơm (máy bơm 5 CV phun xa 30m, máy bơm 9 CV phun xa 50m). Thời gian hoạt động phun chữa cháy của mỗi xe chứa 3 bồn nước là 30 phút. Ðể có nguồn nước cung cấp cho công tác chữa cháy, nông trường bố trí các giếng khoan phân bố đều trong vườn cây cao su.

Sau khi thử nghiệm, xe chữa cháy tự chế của kỹ sư Tài đáp ứng đầy đủ tính năng theo yêu cầu của cơ quan PCCC. Ðặc biệt là tổng chi phí cải tiến xe chở mủ thành xe PCCC chỉ 9,5 triệu đồng, giảm chi phí đầu tư trang bị xe chữa cháy chuyên dùng đến 800 triệu đồng/xe. Có xe chữa cháy này, nông trường tiết kiệm rất đáng kể trong việc bố trí công nhân trực chống cháy cho toàn bộ diện tích vườn cây.

Theo kỹ sư Tài, không chỉ đối với vườn cao su, mà đối với vùng trồng mía, từ phương tiện máy móc sẵn có, các chủ trang trại có thể tự lắp đặt máy chữa cháy theo thiết kế của ông. Ðối với các khu bảo tồn, rừng phòng hộ, khu di tích, kể cả khu dân cư đô thị cũng có thể trang bị máy chữa cháy này.

“Cây” sáng kiến của ngành cao su

Trước đó, ông Tài đã có nhiều công trình sáng kiến cải tiến kỹ thuật khác, đáng lưu ý như: kỹ thuật tạo tán vườn cây kiến thiết cơ bản; công cụ xử lý cây nghiêng trên vườn cây kinh doanh; công cụ khai thác vườn cây tận thu; sử dụng máy bón phân thay thế bón phân thủ công trên vườn cây kiến thiết cơ bản.

Về kỹ thuật tạo tán, kỹ sư Tài cho biết, nhằm khống chế ưu thế về ngọn của vườn cây kiến thiết cơ bản dòng vô tính (phân cành cao dễ ngã đổ), qua quá trình quản lý, nghiên cứu, tìm tòi phân tích đặc tính hình thái của cây cao su, vào năm 2006, ông đưa ra phương pháp cắt ngọn tạo tán cho giai đoạn kiến thiết cơ bản đối với vườn cây năm thứ 2, thứ 3.

Nhờ có kỹ thuật tạo tán, cây phân cành hợp lý, thân cây phát triển đồng đều, thúc đẩy độ tăng nhanh quành tròn thân cây, bảo đảm mật độ vườn cây, hạn chế gãy đổ do gió. Cũng từ đó, người trồng cao su rút ngắn được thời gian kiến thiết cơ bản của cây từ 6 tháng đến một năm (so với trước khi chưa có kỹ thuật tạo tán). Công trình này đã được áp dụng cho toàn ngành cao su.

Theo kỹ sư Tài, đây là công trình vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính nghệ thuật cao, để nâng cao chất lượng vườn cây, tạo tiềm năng năng suất cho thời kỳ kinh doanh.

Hằng năm vào mùa mưa bão, giông lốc, nỗi lo vườn cây cao su kinh doanh bị gãy đổ luôn là vấn đề nhức nhối của người trồng cao su, nhất là trên dòng vô tính RRIV4. Ðể xử lý cây nghiêng, có nguy cơ gãy đổ trên vườn cây nhóm 1 đang khai thác, trước kia, nông trường cho người leo lên cây chặt tỉa nhánh. Công việc này không bảo đảm an toàn lao động, năng suất thấp, hiệu quả không cao (không mé được những nhánh trên ngọn cao). Sau đó, nông trường dùng xe chuyên dụng đưa người và máy cưa lên cao để xử lý; cách làm này quá tốn kém và năng suất cũng thấp.

Từ thực trạng đó, năm 2012, kỹ sư Tài nghĩ ra cách dùng lưỡi câu liêm nối cán dài để tỉa cành cây nghiêng. Cách làm này bảo đảm an toàn lao động, vừa nâng cao năng suất mà chi phí rất thấp, dễ thực hiện, hiệu quả cao. Phương pháp này được đưa sang Lào áp dụng xử lý hàng ngàn ha cao su bị gió lốc nghiêng ngả.

Trước đây, để khai thác tận thu trên vườn cây cao su chuẩn bị thanh lý, công nhân phải bắc thang (hoặc ghế cao) để cạo, vừa không an toàn mà năng suất thấp. Sau đó, nông trường cải tiến bước đầu là dùng cây tầm vông dài nối làm cán dao cạo.

Cách làm này cũng có hiệu quả, nhưng không linh hoạt theo chiều cao cạo miệng, hạn chế năng suất lao động và cũng không khai thác hết tiềm năng năng suất vườn cây chuẩn bị thanh lý. Năm 2010, kỹ sư Tài tạo ra dụng cụ khai thác vườn cây tận thu tiên tiến và hiệu quả hơn. Ðó là dùng cán dao kim loại có 3 đoạn nối nhau bằng chốt khoá, để người công nhân linh hoạt khai thác ở nhiều độ cao khác nhau.

Ðồng thời, cán dao 3 đoạn này cũng tương thích với 3 công dụng khác nhau: lắp đặt vào lưỡi dao cạo; lắp đặt vào dụng cụ bấm máng và dụng cụ bôi kích thích. Nhờ sử dụng công cụ trên, công nhân khai thác hết tiềm năng năng suất cây chuẩn bị thanh lý. Cụ thể, trước đây chỉ khai thác được 1,6 tấn/ha, nay đã nâng lên được 2 tấn/ha. Bộ công cụ này nay đã được áp dụng rộng rãi trong ngành cao su.

 Ngày trước, việc bón phân trên vườn cây kiến thiết cơ bản theo phương pháp thủ công. Do vườn cây rộng lớn, nên hằng năm đến mùa vụ bón phân đòi hỏi phải huy động nhiều nguồn nhân lực. Cách bón thủ công còn nhiều hạn chế về kỹ thuật, năng suất lao động thấp, cần nhiều lao động và tính hại cao (do công nhân tiếp xúc trực tiếp với phân bón).

Do vậy, kỹ sư Tài đã nỗ lực cải tiến thành công máy bón phân trên vườn cây kiến thiết cơ bản và đưa vào sử dụng. Ðây là máy tự hành (tự trộn, tự rạch hàng, tự bón, tự lấp đất), với những ưu điểm thấy rõ: năng suất cao (20 ha/ngày/máy), đạt yêu cầu về mặt kỹ thuật, giảm độc hại, giảm chi phí thuê công nhân (một máy thay thế 20 công nhân bón phân thủ công) và dễ quản lý, kiểm soát.

Qua nhiều năm trải nghiệm trong ngành, kỹ sư Nguyễn Văn Tài đã tự nghiên cứu, học hỏi, tìm tòi để có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng suất và chất lượng vườn cây, giảm thâm dụng lao động, ứng phó hiệu quả với tình hình giá cao su giảm sâu và khủng hoảng thiếu lao động như hiện nay.

Kỹ sư Tài tâm sự: “Khi một sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được tạo ra mà tác giả cố giữ bí mật chỉ để làm lợi riêng cho mình thì hiệu quả mang lại sẽ hạn chế. Do đó, sáng kiến chỉ có giá trị khi được nhân rộng”. Chính vì vậy, ông rất vui khi những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật của mình được phổ biến khắp nơi.

Theo Báo Tây Ninh Online

11/09/2017 9:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TÂY NINH
Giấy phép: 01/GP-TTĐT, cấp ngày 24 tháng 01 năm 2019.
Cơ quan chủ quản:  Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh
Địa chỉ: 136 Đường Trần Hưng Đạo, Phường 2, Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Chịu trách nhiệm chính: Ông Trương Văn Hùng - Chánh Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc Hội, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Điện thoại: 0276. 3822233 - Fax: 0276. 3827290 - Email: toweb@tayninh.gov.vn.