27/01/2026
Ban hành Nghị định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói
Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật và Luật Trồng trọt đã được sửa đổi, bổ sung, đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và hội nhập thị trường quốc tế.
Theo Nghị định, việc nhập khẩu cây mang theo bầu đất vào Việt Nam phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về kiểm dịch thực vật. Cụ thể, các tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải có Giấy phép kiểm dịch thực vật nhập khẩu theo quy định của pháp luật. Đối với các loài cây mang theo bầu đất nhập khẩu lần đầu, phải thực hiện phân tích nguy cơ dịch hại trước khi xem xét cho phép nhập khẩu. Trường hợp các loài cây đã được phép nhập khẩu trước thời điểm Nghị định có hiệu lực, cơ quan chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật ở trung ương sẽ tiến hành kiểm tra tình trạng sinh vật gây hại tại nơi sản xuất của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu trước khi cấp giấy phép nhập khẩu tiếp theo.
Nghị định cũng quy định cây mang theo bầu đất chỉ được nhập khẩu qua các cửa khẩu quốc tế do Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố và phải được đưa về khu cách ly kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu để theo dõi. Thời gian theo dõi sau nhập khẩu là 03 tháng kể từ thời điểm cây được đưa vào khu cách ly. Trong trường hợp không phát hiện sinh vật gây hại thuộc đối tượng kiểm dịch thực vật của Việt Nam hoặc sinh vật gây hại lạ, việc theo dõi sẽ kết thúc. Trường hợp phát hiện sinh vật gây hại, cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định nhằm ngăn chặn nguy cơ xâm nhiễm và lây lan dịch hại.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định rõ các yêu cầu kỹ thuật đối với vùng trồng và cơ sở đóng gói đề nghị cấp mã số. Vùng trồng phải đáp ứng yêu cầu về diện tích tối thiểu, quy trình sản xuất, hồ sơ ghi chép và lưu trữ thông tin liên quan đến quá trình sản xuất, thu hoạch. Cơ sở đóng gói phải có địa điểm, nhà xưởng, trang thiết bị phù hợp; có quy trình đóng gói, biện pháp kiểm soát sinh vật gây hại và hệ thống hồ sơ quản lý nguồn gốc sản phẩm. Đối với các vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu, ngoài các yêu cầu chung còn phải đáp ứng đầy đủ quy định về kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu.
Việc cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện theo đề nghị của tổ chức, cá nhân, với trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết cụ thể. Mỗi vùng trồng và mỗi cơ sở đóng gói được cấp một mã số định danh duy nhất, thống nhất trên phạm vi toàn quốc và có thể gắn thêm ký hiệu thị trường nhập khẩu khi được nước ngoài phê duyệt.
Nghị định cũng quy định trách nhiệm tự giám sát của các tổ chức, cá nhân được cấp mã số, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan chuyên môn. Trường hợp vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói không duy trì các yêu cầu kỹ thuật, vi phạm quy định về kiểm dịch thực vật hoặc an toàn thực phẩm, mã số sẽ bị tạm dừng hoặc thu hồi theo quy định.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã được cấp trước đây tiếp tục được sử dụng trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Nghị định có hiệu lực, đồng thời thực hiện chuyển đổi sang mã số mới theo quy định./.
Linh Linh