Chính phủ ban hành Nghị định quy định nhập khẩu cây mang theo bầu đất và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói
Nghị định được ban hành trên cơ sở Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025; Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Luật Trồng trọt và các luật sửa đổi, bổ sung liên quan trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Theo Nghị định, việc nhập khẩu cây mang theo bầu đất vào Việt Nam phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về kiểm dịch thực vật. Cụ thể, tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải có Giấy phép kiểm dịch thực vật nhập khẩu; đối với các loài cây nhập khẩu lần đầu, bắt buộc phải thực hiện phân tích nguy cơ dịch hại theo quy định.
Đối với những loài cây đã từng được phép nhập khẩu trước đây, cơ quan chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật ở trung ương sẽ kiểm tra tình trạng sinh vật gây hại tại nơi sản xuất của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu trước khi cấp phép nhập khẩu tiếp theo. Danh sách các nơi sản xuất đủ điều kiện sẽ được công khai.
Cây mang theo bầu đất chỉ được nhập khẩu qua các cửa khẩu quốc tế do Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố và phải đưa về khu cách ly kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu. Thời gian theo dõi sau nhập khẩu là 03 tháng. Trường hợp không phát hiện sinh vật gây hại thuộc diện kiểm dịch hoặc sinh vật gây hại lạ thì kết thúc cách ly; nếu phát hiện vi phạm, sẽ áp dụng các biện pháp xử lý, tiêu hủy theo quy định.
Nghị định quy định rõ yêu cầu kỹ thuật đối với vùng trồng và cơ sở đóng gói khi đề nghị cấp mã số. Vùng trồng phải đáp ứng điều kiện về diện tích, quy trình sản xuất, hồ sơ ghi chép và lưu trữ thông tin. Cơ sở đóng gói phải có địa điểm, trang thiết bị, quy trình đóng gói, biện pháp kiểm soát sinh vật gây hại và hệ thống hồ sơ đầy đủ.
Đối với vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu, ngoài các yêu cầu chung còn phải đáp ứng các quy định về kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu.
Nghị định cũng quy định cụ thể trình tự, thủ tục cấp mã số, thời gian giải quyết hồ sơ, cũng như quy tắc đặt mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo mã tỉnh, loại hình và cây trồng, bảo đảm thống nhất, dễ quản lý và truy xuất nguồn gốc.
Các vùng trồng, cơ sở đóng gói được cấp mã số có trách nhiệm tự giám sát định kỳ, phối hợp với cơ quan chuyên môn trong công tác kiểm tra. Trường hợp không duy trì điều kiện kỹ thuật, vi phạm quy định về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm hoặc không thực hiện khắc phục theo yêu cầu, mã số có thể bị tạm dừng hoặc thu hồi.
Việc tạm dừng, thu hồi mã số được thực hiện theo từng thị trường xuất khẩu và không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của mã số tại các thị trường khác.
Nghị định quy định rõ trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc hướng dẫn, tập huấn, xây dựng cơ sở dữ liệu và kiểm tra việc thực hiện. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm phân công cơ quan chuyên môn, ban hành kế hoạch, bố trí nguồn lực và tổ chức triển khai cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trên địa bàn.
Tổ chức, cá nhân có mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và tổ chức, cá nhân nhập khẩu cây mang theo bầu đất phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định, bảo đảm tuân thủ pháp luật và yêu cầu của thị trường.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã được cấp trước đây tiếp tục được sử dụng trong thời hạn 01 năm để hoàn thành việc chuyển đổi theo quy định mới.
Việc ban hành Nghị định là cơ sở quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm an toàn sinh học, kiểm soát dịch hại, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, xuất khẩu nông sản bền vững, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế./.